- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Q yêu cầu ly hôn với chị K, con chung k cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không có."
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Kiều Trí Q về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với chị Nguyễn Thị K.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18/3/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu.
Ông Đặng Quang Hoạch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Đình Đạo – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 106/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/02/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/3/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Kiều Trí Q, sinh năm: 1977.
HKTT: Tổ 5, khu phố 3, thị trấn T, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Cư trú: Số 72, tổ 3, ấp 7, xã S, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị K, sinh năm: 1983.
HKTT: Tổ 5, khu phố 3, thị trấn T, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Cư trú: Số 72, tổ 3, ấp 7, xã S, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
(các đương sự vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Kiều Trí Q trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị K tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau nên đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai vào năm 2004.
Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nên không còn quan tâm đến nhau, tuy chung sống một nhà nhưng mỗi người có một cuộc sống riêng, hôn nhân cũng không còn hạnh phúc, anh yêu cầu được ly hôn với chị K.
Về con chung: Có 03 con chung là cháu Kiều Thị Quế T, sinh ngày 06/9/2005, cháu Kiều Ánh L, sinh ngày: 14/7/2007 và cháu Kiều Chí C, sinh ngày 03/8/2010. Khi ly hôn, anh đồng ý giao cháu L, cháu C cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh không cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu T đã thành niên, có khả năng lao động nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết;
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì bận công việc nên anh xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
- Theo bản tự khai có trong hồ sơ vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Q tự nguyện tìm hiểu và yêu thương nhau nên đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai vào năm 2004. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không còn yêu thương nhau, hôn nhân không hạnh phúc và đã ly thân được một thời gian, nay anh Q nộp đơn yêu cầu ly hôn với chị thì chị cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: 03 con chung là cháu Kiều Thị Quế T, sinh ngày 06/9/2005, cháu Kiều Ánh L, sinh ngày: 14/7/2007 và cháu Kiều Chí C, sinh ngày 03/8/2010. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi cháu L và cháu C, tạm thời chị không yêu cầu anh Q cấp dưỡng; đối với cháu T đã thành niên, có khả năng lao động nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì bận công việc nên chị xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thủ tục hòa giải, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của anh Q là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho anh Q được ly hôn với chị K. Về con chung: Giao cháu Linh, cháu Công cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con; tài sản chung, nợ chung đương sự trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không xem xét. Về án phí: Anh Q phải nộp án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Anh Kiều Trí Q nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con với chị Nguyễn Thị K, sinh năm: 1983, cư trú: Số 72, tổ 3, ấp 7, xã S, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.
Về thủ tục tố tụng:
Anh Q nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.
Anh Q, chị K có trình bày xin xét xử vắng mặt nên căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt các đương sự.
Về yêu cầu khởi kiện:
3.1 - Về quan hệ hôn nhân:
Anh Q và chị K tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được UBND thị trấn T, huyện Trảng Bom cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 133 ngày 08/10/2004 nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, anh Q và chị K đồng ý ly hôn vì hiện nay vợ chồng anh chị không còn quan tâm đến nhau, hôn nhân không còn hạnh phúc, đồng thời anh chị cũng đề nghị không tiến hành hòa giải nhiều lần vì anh chị không còn muốn hàn gắn, hòa giải, đoàn tụ với nhau. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị K với anh Q là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Q yêu cầu ly hôn với chị K là có cơ sở chấp nhận và phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
3.2 - Về con chung: Có 03 con chung là cháu Kiều Thị Quế T, sinh ngày 06/9/2005, Kiều Ánh L, sinh ngày: 14/7/2007, Kiều Chí C, sinh ngày 03/8/2010. Ly hôn, anh chị thống nhất giao cháu L, cháu C cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và tạm thời anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con; đối với cháu T đã thành niên, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời cháu L, cháu C có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về con chung của anh Q.
3.3 - Tài sản chung: Đương sự trình bày tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
3.4 - Về nợ chung: Đương sự trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Anh Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000; Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Kiều Trí Q về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” với chị Nguyễn Thị K.
1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Kiều Trí Q được ly hôn với chị Nguyễn Thị K.
2. Về con chung: Giao cháu Kiều Ánh L, sinh ngày: 14/7/2007 và cháu Kiều Chí C, sinh ngày 03/8/2010 cho chị Nguyễn Thị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Kiều Trí Q không phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Kiều Thị Quế T, sinh ngày 06/9/2005 đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
Anh Kiều Trí Q được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí: Anh Kiều Trí Q phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0006560 ngày 05/02/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai. Anh Kiều Trí Q đã nộp đủ án phí.
5. Anh Kiều Trí Q, chị Nguyễn Thị K có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAT, THA,VKS; - Đương sự; - UBND thị trấn Trảng Bom; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hương |