vanban.org

Bản án 19/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Q.

Về hôn nH: Cho chị Lê Thị Q ly hôn với anh Huỳnh Văn B. Giấy chứng nhận kết hôn số: 154/2017 ngày 30/10/2017 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Q yêu cầu ly hôn với anh B"
  • Tòa quyết gì? Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Q.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NH DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST
Ngày 12 - 01 - 2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NH DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NH DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trương Huỳnh Hải.

Các Hội thẩm nH dân:

Ông Văn Công Trọn.

Ông Nguyễn Minh Hải.

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thêu - Thư ký Toà án nH dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 12 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nH dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 658/2023/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 431/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/12/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Q, sinh năm 1997.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn B, sinh năm 1988.

Cùng địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà không rõ lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 10/10/2023, lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, thể hiện:

Vào năm 2017 chị Q và anh B tự nguyện sống chung với nhau, hôn nH tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nH dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau vào ngày 30/10/2017 (Giấy chứng nhận kết hôn số: 154/2017). Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Gia H, sinh 07/4/2018 (hiện nay chị Q đang nuôi dạy). Về tài sản chung và nợ chung tự thoả thuận. Nguyên nhân mâu thuẫn trong quá trình chung sống do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình vợ chồng không phù hợp, cuộc sống vợ chồng không đảm bảo hạnh phúc.

Nay chị Q yêu cầu ly hôn với anh B. Về con chung yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn: Tòa án đã triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần để xét xử nhưng đều vắng mặt không rõ lý do, nên không ghi nhận được ý kiến. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì phản đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ những nội dung vụ án thể hiện;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Xét về Q khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm Q giải quyết của Tòa án: Nguyên đơn thực hiện Q khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn, yêu cầu nuôi con. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nH dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết vụ án dân sự về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về thủ tục: Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu và ý kiến của đương sự:

Về yêu cầu ly hôn: Mối quan hệ hôn nH giữa chị Q và anh B được xác lập trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên mối quan hệ hôn nH là hợp pháp. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh B hai lần để tham gia hòa giải nhưng anh B đều không đến, đồng thời cũng không có ý kiến hay cung cấp tài liệu, chứng cứ gì phản đối với yêu cầu khởi kiện của chị Q, đồng thời quá trình giải quyết vụ án chị Q thể hiện ý chí cương quyết ly hôn với anh B, nên xác định được chị Q và anh B không còn quan tâm gì đối với mối quan hệ hôn nH này và đời sống hôn nH giữa chị Q và anh B đã thực sự mâu thuẫn trầm trọng, không hàn gắn được. Như vậy, có căn cứ xác định chị Q và anh B đã vi phạm nghiêm trọng Q và nghĩa vụ của vợ chồng dẫn đến các hệ lụy nêu trên, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nH về sau thì sẽ không đảm bảo hạnh phúc và trái với các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nH và gia đình hiện nay, nên cần chấp nhận cho chị Q được ly hôn với anh B là phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nH và gia đình. (Giấy chứng nhận kết hôn số: 154/2017 ngày 30/10/2017 của Ủy ban nH dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật).

Về con chung:

- Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Hội đồng xét xử xét thấy sau khi ly hôn chị Q và anh B không có thỏa thuận người trực tiếp nuôi con, chị Q không thuộc trường hợp không đủ điều kiện trông nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; chị Q hiện đang nuôi dạy cháu Huỳnh Gia H, quá trình giải quyết vụ án không ghi nhận được ý kiến anh B về việc phản đối việc chị Q nuôi dạy con, đồng thời cũng không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc chị Q nuôi dạy cháu H hiện nay là không tốt. Do đó, để tránh cuộc sống của cháu bị xáo trộn về sau, nên cần tiếp tục giao cháu H cho chị Q nuôi dạy là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh B có Q, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; anh B có nghĩa vụ tôn trọng Q của con được sống với chị Q; nếu anh B lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Q có Q yêu cầu Tòa án hạn chế Q thăm nom con theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Chị Q không yêu cầu, xét thấy đây là sự tự nguyện của chị Q, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh B không phải cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Q cho rằng tài sản chung và nợ chung không có, nhưng trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không ghi nhận được ý kiến của anh B về vấn đề tài sản chung và nợ chung, nên không có căn cứ làm rõ phần tài sản chung và nợ chung giữa chị Q và anh B. Do đó, cần tách phần tài sản chung và nợ chung ra, trường hợp sau này giữa các đương sự có tranh chấp và có yêu cầu thì sẽ giải quyết bằng vụ kiện khác.

Xét về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Q phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chị Q đã dự nộp tiền tạm ứng án phí trước 300.000 đồng tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Q.

- Về hôn nH: Cho chị Lê Thị Q ly hôn với anh Huỳnh Văn B.

Giấy chứng nhận kết hôn số: 154/2017 ngày 30/10/2017 của Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau hết hiệu lực kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

- Về con chung:

+ Về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn: Giao cho chị Lê Thị Q trực tiếp nuôi dạy cháu Huỳnh Gia H, sinh 07/4/2018. Anh Huỳnh Văn B có Q, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, anh B có nghĩa vụ tôn trọng Q của con được sống với chị Q; nếu anh B lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Q có Q yêu cầu Tòa án hạn chế Q thăm nom con. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định của pháp luật.

+ Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: Anh Huỳnh Văn B không phải cấp dưỡng cho con.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Huỳnh Văn B phải nộp án phí ly hôn là 300.000 đồng, anh Huỳnh Văn B đã dự nộp tạm ứng án phí trước 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0007491 ngày 10/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu đối trừ.

3. Q kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có Q kháng cáo bản án này trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có Q thoả thuận thi hành án, Q yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ