vanban.org

Bản án 19/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị M đối với bị đơn ông Phạm Thanh T về việc “ Cấp dưỡng nuôi con”

Buộc ông Phạm Thanh T phải cấp dưỡng nuôi con cho 03 cháu Phạm Trần Thảo M, sinh ngày 10/11/2009, Phạm Thanh Gia T, sinh ngày 29/3/2012 và Phạm Hoàng Thanh M, sinh ngày 23/7/2013 mỗi tháng 4.500.000đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), tức 1.500.000đồng/1tháng/01 con; thời gian cấp dưỡng nuôi con tí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị M đối với bị đơn ông Phạm Thanh T về việc “ Cấp dưỡng nuôi con”
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ HÒA
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19 /2024/HNGĐ-ST
Ngày 20 /5/2024
Về vụ:Tranh chấp về cấp
dưỡng nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Hoan.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Xuân Nghi và bà Phan Thị Thúy Hằng.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Hiền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa tham gia phiên tòa: ông Bùi Xuân Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 tranh chấp về cấp dưỡng nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 26 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

*Nguyên đơn: bà Trần Thị M, sinh năm: 1984;

Địa chỉ: thôn Phú n, xã Hòa A, huyện Phú H, tỉnh Phú Yên.

*Bị đơn: ông Phạm Thanh T, sinh năm: 1985;

Địa chỉ: thôn Đông L, xã Hòa T, huyện Phú H, tỉnh Phú Yên

Bà M có mặt, ông T Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Trần Thị M trình bày:

Theo Bản án số 68/2023/HNGĐ - ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử: về quan hệ hôn nhân: nguyên đơn Trần Thị M được ly hôn với bị đơn Phan Thanh T; về con chung: giao 03 con tên Phạm Trần Thảo M, sinh ngày 10/11/2009, Phạm Thanh Gia T, sinh ngày 29/3/2012 và Phạm Hoàng Thanh M, sinh ngày 23/7/2013 cho bà Trần Thị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Nguyên đơn bà M không yêu cầu cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Nhưng hiện nay do điều kiện kinh tế làm ăn gặp khó khăn, bà M đang nuôi 03 con chi phí rất cao, hơn nữa từ trước đến nay ông T không tự nguyện cấp dưỡng nuôi con.Vậy bà M khởi kiện yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đồng/01con, tức 03 con mỗi tháng 4.500.000đồng từ sau khi ly hôn tháng 10/2023.

Bị đơn ông Phạm Thanh Tịnh trình bày: ông T thống nhất như lời trình bày bà Min về ly hôn, giao con cho bà M nuôi. Nay bà M yêu cầu cấp dưỡng nuôi con tên Phạm Trần Thảo M, sinh ngày 10/11/2009, Phạm Thanh Gia T, sinh ngày 29/3/2012 và Phạm Hoàng Thanh M,sinh ngày 23/7/2013 mỗi tháng 4.500.000đồng/03 con, thời gian từ tháng 10/2023, ông T chấp nhận theo yêu cầu của bà M.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và việc giải quyết vụ án:

+ Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự:

Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã xác định đúng mối quan hệ tranh chấp, xác định đúng tư cách pháp lý của các đương sự, chấp hành đúng trình tự, thủ tục thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, thư ký cũng đã chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ pháp luật quy định.

+ Việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của nguyên đơn bà M; buộc bị đơn ông Phạm Thanh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho 03 cháu Phạm Trần Thảo M, sinh ngày 10/11/2009, Phạm Thanh Gia T, sinh ngày 29/3/2012 và Phạm Hoàng Thanh M, sinh ngày 23/7/2013 mỗi tháng 4.500.000đồng/03 con, tức 1.500.000đồng/01tháng/01con, bắt đầu từ tháng 10/2023 đến khi có căn cứ chấp dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.

Ông Phạm Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Bị đơn ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: bà Trần Thị M khởi kiện yêu cầu ông Phạm Thanh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn, nên xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp cấp dưỡng nuôi con” theo qui định tại khoản 5 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông T cư trú tại huyện Phú H, nên Tòa án nhân dân huyện Phú H giải quyết; ông T có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải và xin xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T theo quy định tại khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 207, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung tranh chấp: bà Trần Thị M và ông Phạm Thanh T có 03 con chung là Phạm Trần Thảo M, sinh ngày 10/11/2009, Phạm Thanh Gia T, sinh ngày 29/3/2012 và Phạm Hoàng Thanh M, sinh ngày 23/7/2013. Theo Bản án số: 68/2023/HNGĐ - ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên; tuyên xử bà Trần Thị M có trách nhiệm nuôi ba con chung và bà M không yêu cầu ông T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Nay bà Trần Thị M yêu cầu ông Phạm Thanh T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 4.500.000đồng/03 con cho đến khi con đủ tuổi thành niên. Xét thấy, hiện nay bà M đang làm công nhân thu nhập thấp, việc một mình bà M nuôi dưỡng các con mà không có tiền cấp dưỡng của ông T là rất khó khăn cho việc nuôi con, cũng như điều kiện chăm sóc nuôi dạy để cho các cháu có cuộc sống phát triển tốt về thể chất lẫn tinh thần. Do vậy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M; buộc ông Phạm Thanh T cấp dưỡng nuôi con cho 03 cháu mỗi tháng 4.500.000 đồng, thời gian cấp dưỡng kể từ tháng 10/2023 đến khi con đủ tuổi thành niên là phù hợp.

Về án phí: ông Phạm Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 147, 227, 228 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; các Điều 69, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 24 và 27 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị M đối với bị đơn ông Phạm Thanh T về việc “ Cấp dưỡng nuôi con”

Buộc ông Phạm Thanh T phải cấp dưỡng nuôi con cho 03 cháu Phạm Trần Thảo M, sinh ngày 10/11/2009, Phạm Thanh Gia T, sinh ngày 29/3/2012 và Phạm Hoàng Thanh M, sinh ngày 23/7/2013 mỗi tháng 4.500.000đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng), tức 1.500.000đồng/1tháng/01 con; thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 10/2023 cho đến khi chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng thuộc một trong các trường hợp qui định tại Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông Phạm Thanh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

Về án phí: ông Phạm Thanh T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.

TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ