- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thòng Thượng Hòa.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST Ngày: 29-02-2024 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Viển
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quy và ông Hoàng Luật.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thọ – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 02 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 451/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 11 năm 2023, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Thòng Thượng H – sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số nhà 59, phố 5, ấp 2, xã P, huyện D, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Chị Chắng Cóng V – sinh năm 1991.
Địa chỉ: Số nhà 59, phố 5, ấp 2, xã P, huyện D, tỉnh Đồng Nai.
(Anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; chị V vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 10 năm 2023 và lời khai trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Thòng Thượng H trình bày:
- Về hôn nhân: Anh và chị Chắng Cóng V tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện D, tỉnh Đồng Nai và được cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 134 ngày 19/12/2017. Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2020 thì phát sinh rất nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do không hợp nhau về cách sống nên thường xuyên cãi vả, bất hòa với nhau. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể tiếp tục chung sống được với nhau nên anh và chị V đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay. Hiện nay anh và chị V không còn tình cảm vợ chồng và không thể hàn gắn cuộc sống hôn nhân được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với chị Chắng Cóng V.
- Về con chung: Anh trình bày anh và chị Chắng Cóng V không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Anh trình bày anh và chị Chắng Cóng V không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Anh trình bày anh và chị Chắng Cóng V không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị V không đến Tòa án tham gia tố tụng, khi Tòa án đến trực tiếp tại địa phương thì không gặp được, nên không thu thập được lời khai của bị đơn.
Tòa án đã tiến hành sao gửi các tài liệu chứng cứ nguyên đơn giao nộp cho bị đơn và thông báo về việc thu thập được tài liệu chứng cứ cho các đương sự.
Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không thay đổi, bổ sung ý kiến, đề nghị của mình; bị đơn không có yêu cầu phản tố. Các đương sự không giao nộp, bổ sung thêm tài liệu chứng cứ nào khác, không yêu cầu triệu tập đương sự, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác.
Phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn yêu cầu khởi kiện của anh H, cho anh H được ly hôn với chị V .
Về con chung: Anh H trình bày anh và chị V không có con chung nên không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh Thòng Thượng H chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Về tố tụng:
- Bị đơn chị Chắng Cóng V có nơi cư trú tại xã P, huyện D, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện D theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Anh Thòng Thượng H khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Chắng Cóng Văn. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định tư cách đương sự anh H là nguyên đơn và chị V là bị đơn, theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn đã được cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng vẫn vắng mặt tại phiên họp, phiên hòa giải không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Vì vậy, Tòa án không tiến hành hòa giải được theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Nguyên đơn có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hôn nhân giữa anh H và chị V được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện D và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật ngày 19/12/2017. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Anh H trình bày trong quá trình chung sống thì anh chị có xảy ra mâu thuẫn vì bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cự cãi và anh chị đã không còn chung sống từ năm 2020, đã tự hòa giải nhưng không thành. Bản thân chị V đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án tham gia tố tụng thể hiện có thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến anh H, không có thiện chí đoàn tụ gia đình. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án về tình trạng hôn nhân tại địa phương và các tài liệu, chứng cứ khác cũng phù hợp với lời khai của nguyên đơn.
Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, các đương sự đã không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.
Về con chung: Anh H trình bày anh và chị V không có con chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Anh Thòng Thượng H chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình.
Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 217, 218, 227, 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 56, 58, 131 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
1. Về yêu cầu khởi kiện: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Thòng Thượng Hòa.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho anh Thòng Thượng H được ly hôn với chị Chắng Cóng Văn.
- Về con chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí: Anh Thòng Thượng H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn. Số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) anh H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004708 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D, tỉnh Đồng Nai được chuyển thành án phí. Anh H đã nộp đủ án phí.
3. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND huyện D; - Chi cục THA DS huyện D; - Các đương sự (để thi hành); - UBND xã P (Số 134, ngày 19/12/2017) để ghi vào sổ hộ tịch; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Viển |