vanban.org

Bản án 19/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thùy L về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Lê Huỳnh Đ.

Về hôn nhân: bà Trần Thị Thùy L được ly hôn với ông Lê Huỳnh Đ. Về nuôi con chung: bà Trần Thị Thùy L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Quỳnh Anh T, sinh ngày 03/11/2022. Ông Lê Huỳnh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thùy L về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Lê Huỳnh Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 02-02-2024
V/v ly hôn giữa bà L và ông Đ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng.

2. Bà Phạm Ngọc Mai.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C.

Ngày 02 tháng 02 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 608/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 về Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thùy L, sinh năm: 2000 (có mặt);

Địa chỉ: Số nhà A, Tổ B, ấp L, xã P, huyện C1, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Lê Huỳnh Đ, sinh năm: 1997 (vắng mặt);

Nơi ĐKHKTT: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre;

Chỗ ở hiện nay: Nhà trọ D, ấp L1, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 25/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị Thùy L trình bày:

Bà L và ông Đ tổ chức lễ cưới vào năm 2022, có thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 38/2022 ngày 03/6/2022. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Đ không chủ động đi làm chăm lo cho vợ con, ông Đ còn có tính gia trưởng dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ngoài ra, ông Đ còn có người phụ nữ khác. Bà và ông Đ đã ngồi lại nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Bà L nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu ly hôn với ông Đ.

Về nuôi con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Lê Quỳnh Anh T, sinh ngày 03/11/2022, hiện đang sống chung với bà L. Khi ly hôn, bà L yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

- Đối với bị đơn ông Lê Huỳnh Đ, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Lê Huỳnh Đ. Ông Đ không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của bà L, không nộp tài liệu, chứng cứ và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.

Về thủ tục tố tụng:

Bà Trần Thị Thùy L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Lê Huỳnh Đ, ông Đ hiện đang cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh Long An nên Tòa án nhân dân huyện C thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Lê Huỳnh Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Tòa án xét xử vụ án vắng mặt ông Đ theo quy định khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung tranh chấp:

Về hôn nhân: bà Trần Thị Thùy L và ông Lê Huỳnh Đ có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre cấp giấy chứng nhận kết hôn số 38/2022 ngày 03/6/2022 nên xác định hôn nhân giữa bà L và ông Đ là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà L trình bày, sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông Đ không chủ động đi làm chăm lo cho vợ con, ông Đ còn có tính gia trưởng dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Ngoài ra, ông Đ còn có người phụ nữ khác. Bà và ông Đ đã ngồi lại nói chuyện với nhau để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 11/2023 cho đến nay. Đối với ông Đ, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ nhưng ông Đ không có ý kiến phản hồi và cũng không đến Tòa án tham gia giải quyết vụ án. Điều này chứng tỏ ông Đ không có thiện chí hàn gắn tình cảm với bà L. Tại phiên tòa, bà L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông Đ. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông Đ đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông Đ.

Về nuôi con chung: bà L và ông Đ chung sống có 01 con chung tên Lê Quỳnh Anh T, sinh ngày 03/11/2022. Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ông Đ không có ý kiến phản hồi đối với vấn đề này. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung hiện đang sống chung với bà L, cuộc sống đã ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L, giao con chung tên Lê Quỳnh Anh T, sinh ngày 03/11/2022 cho bà L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Bà L không có yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: bà L trình bày không có, ông Đ không có ý kiến phản hồi về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: bà L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Thùy L về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Lê Huỳnh Đ.

1. Về hôn nhân: bà Trần Thị Thùy L được ly hôn với ông Lê Huỳnh Đ.

2. Về nuôi con chung: bà Trần Thị Thùy L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Lê Quỳnh Anh T, sinh ngày 03/11/2022. Ông Lê Huỳnh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: bà Trần Thị Thùy L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp theo biên lai thu số 0002650 ngày 10 tháng 11 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà L đã nộp đủ.

4. Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ