- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xét xử cho ly hôn giữa chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S. Quan hệ hôn nhân của chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2024/HNGĐ-ST Ngày 29 - 06 - 2024 V/v: “Kiện ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Minh Thanh
2. Ông Lương Văn Thắng
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Lý - Thư ký Toà án nhân dân huyện B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Nghiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 29/06/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 11/2024/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 03 năm 2024 về việc kiện “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 05 năm 2024 và quyết đinh hoãn phiên tòa số: 21/2024/QĐST- HNGĐ ngày 17 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Phàn Thị N - Sinh năm 2003
Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai.(vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Tẩn Láo S - Sinh năm 1998
Địa chỉ: thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. (vắng mặt)
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của Phàn Thị N: Bà Đỗ Thị Lan Oanh – Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Lào Cai. (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Phàn Thị N trình bày: Chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S về chung sống cùng nhau từ năm 2018 đến ngày 01/07/2022 mới đi làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do anh Tẩn Láo S thường xuyên đi chơi không tu trí làm ăn, chị Phàn Thị N khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Tẩn Láo S không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay không có quan hệ về tình cảm cũng như kinh tế. Đến nay chị Phàn Thị N xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Phàn Thị N được ly hôn anh Tẩn Láo S.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S có 02 người con chung cháu Tẩn Thanh T - sinh ngày 29/01/2019 cháu Tẩn Thị Diễm T - sinh ngày 02/09/2021. Hiện cả hai cháu Tẩn Thanh T và cháu Tẩn Thị Diễm T đang ở cùng chị Phàn Thị N. Khi ly hôn chị Phàn Thị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc, giáo dục cả hai cháu Tẩn Thanh T và cháu Tẩn Thị Diễm T đến tuổi trưởng thành (18 tuổi).
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phàn Thị N không yêu cầu anh Tẩn Láo S phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản: Chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết
Đối với bị đơn anh Tẩn Láo S: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Tẩn Láo S nhưng tòa án không tống đạt được lý do không tống đạt được các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Tẩn Láo S là anh Tẩn Láo S có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn P, xã T, huyện B nhưng thường xuyên đi làm ăn xa, thi thoảng mới về không ở ổn định tại nơi cư trú. Vì Vậy Tòa án tiến hành niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Tẩn Láo S, anh Tẩn Láo S cũng không có văn bản trả lời về việc chị Phàn Thị N có đơn xin ly hôn, nuôi con khi ly hôn anh Tẩn Láo S cũng không đến Toà án nhân dân huyện B làm bản tự khai và không tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ. Vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án các thủ tục tố tụng được tiến hành đầy đủ, đúng quy định. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký tuân thủ đúng các quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đúng quy định pháp luật. Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về ly hôn: Xử cho chị Phàn Thị N được ly hôn anh Tẩn Láo S
Về con chung: Giao cháu Tẩn Thanh T - sinh ngày 29/01/2019 và cháu Tẩn Thị Diễm T - sinh ngày 02/09/2021 cho chị Phàn Thị N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Tẩn Thanh T và cháu Tẩn Thị Diễm T đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Tẩn Láo S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị Phàn Thị N trình bày: Chị Phàn Thị Nèo và anh Tẩn Láo S chung sống không hạnh phúc, anh Tẩn Láo S thường xuyên đi chơi, không tu trí làm ăn, thường xuyên đánh cãi chửi nhau, anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2023 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả về tình cảm và kinh tế. Vì vậy đề nghị HĐXX giải quyết tuyên xử ly hôn cho chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S. Về con chung: Đề nghị HĐXX xem xét giải quyết cho chị Phàn Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cháu Tẩn Thanh T – sinh ngày 29/01/2019 và cháu Tẩn Thị Diễm T - sinh ngày 02/09/2019 cho đến khi cháu Tẩn Thanh T và cháu Tẩn Thị Diễm T đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Tẩn Láo S không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng và áp dụng pháp luật: Chị Phàn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết giải quyết “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với anh Tẩn Láo S có địa chỉ tại thôn P, xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai vì vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự và áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình giải quyết về nội dung khởi kiện. Nguyên đơn chị Phàn Thị N không tham gia hòa giải, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Vì vậy, vụ án không tiến hành hoà giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa chị Phàn Thị N vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Tẩn Láo S vắng mặt lần thứ hai không có lý do, vì vậy Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự
Xét yêu cầu khởi kiện: Chị Phàn Thị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tẩn Láo S.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S có đăng ký kết hôn ngày 01/07/2022 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Lào Cai là hôn nhân hợp pháp, sau khi kết hôn chị Phàn Thị N về sinh sống tại nhà của anh Tẩn Láo S. Quá trình chung sống chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh Tẩn Láo S thường xuyên đi chơi không tu trí làm ăn, chị Phàn Thị N khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Tẩn Láo S không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2023 cho đến nay không ai quan tâm đến ai cả về tình cảm và kinh tế. Tại biên bản xác minh ngày 08/03/2024 của Tòa án nhân dân huyện B đã được ông Tẩn Láo Tả là trưởng thôn P cho biết chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S thường xuyên đánh cãi chửi nhau, anh Tẩn Láo S đi làm ăn xa thi thoảng mới về nhà Như vậy tình cảm vợ chồng giữa chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phàn Thị N đối với anh Tẩn Láo S.
Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S có 02 người con chung cháu Tẩn Thanh T - sinh ngày 29/01/2019 và cháu Tẩn Thị Diễm T - sinh ngày 02/09/2021. Khi ly hôn chị Phàn Thị N đề nghị Tòa án giải quyết cho chị Phàn Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cả hai cháu Tẩn Thanh T và cháu Tẩn Thị Diễm T đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) chị Phàn Thị N cho rằng anh Tẩn Láo S đi làm ăn xa thi thoảng mới về nhà, không có thời gian chăm sóc các con. Về cấp dưỡng nuôi con chị Phàn Thị N không yêu cầu anh Tẩn Láo S phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Xét việc giao nuôi con thì chị Phàn Thị N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai cháu Tẩn Thanh T - sinh ngày 29/01/2019 và cháu Tẩn Thị Diễm T - sinh ngày 02/09/2021 đến tuổi trưởng thành (18 tuổi) Việc nuôi con khi thông báo tiếp cận công khai chứng cứ cũng đã ghi quan điểm của chị Phàn Thị N về việc để chị Phàn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc cả hai cháu Tẩn Thanh T và cháu Tẩn Thị Diễm T, anh Tẩn Láo S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phàn Thị N, anh Tẩn Láo S không có ý kiến gì cũng không có văn bản ghi ý kiến của mình về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Chị Phàn Thị N có đơn đề nghị ủy ban nhân dân xã T xác nhận mức thu nhập làm nông nghiệp tại địa phương là từ 150 đến 200 trăm nghìn đồng/ ngày. Hiện nay anh Tẩn Láo S thường xuyên vắng nhà nên không có thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con. Vì vậy căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân và Gia đình giao cháu Tẩn Thanh T và cháu Tẩn Thị Diễm T cho chị Phàn Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Anh Tẩn Láo S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Phàn Thị N.
Về tài sản chung: Chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phàn Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn.
Từ những nhận định trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.Về quan hệ hôn nhân: Tuyên xử cho ly hôn giữa chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S. Quan hệ hôn nhân của chị Phàn Thị N và anh Tẩn Láo S chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Tẩn Thanh T - sinh ngày 29/01/2019 và cháu Tẩn Thị Diễm T - sinh ngày 02/09/2021 cho chị Phàn Thị N trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi cháu Tẩn Thanh T và cháu Tẩn Thị Diễm T đến tuổi trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Tẩn Láo S không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con anh Tẩn Láo S được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Phàn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000604 ngày 05 tháng 03 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B. Xác nhận chị Phàn Thị N đã nộp đủ tiền án phí ly hôn.
4. Quyền kháng cáo: Chị Phàn Thị N, anh Tẩn Láo S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Minh Thanh
Lương Văn Thắng
Đỗ Thị Thanh Hương
| Nơi nhận: - TAND tỉnh - VKSND tỉnh; - VKS huyện BX - THADS; - UBND xã T (2) (ĐKKH và nơi cư trú) - Các đương sự - Lưu hs, tập QĐ | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thanh Hương |