- Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyễn Thị Nhã Trang với Nguyễn Thị Thùy DUng"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 175 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
CỘ G
XÃ ỘI C Ủ G Ĩ VIỆ
M
TỈ ĐỒNG THÁP
Độc lập - Tự do - ạnh phúc Bản án số: 19/2024/DS-PT
Ngày: 18-01-2024 V/v tranh chấp ranh giới quyền
sử dụng đất .
NHÂN DANH
ƯỚC CỘNG H XÃ ỘI C Ủ G Ĩ VIỆ
M
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈ ĐỒ G
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngu n Tấn Tặng
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Minh Tùng;
Bà Lê Thị Trúc Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguy n Bảo Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp.
- Đ i di n Vi n i m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Ông Phan Trung Quốc - i m sát viên tham gia phiên tòa.
Trong ng 18/01/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đ ng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 313/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ng 09 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân th nh phố Cao Lãnh bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 462/2023/QĐ-PT ng 12 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Ngu ên đơn: B Nguy n Thị Nhã T, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số B, đường T, Tổ C Phường A, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T là: Anh Trần Đình H, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số B đường T phường H, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp. (Văn bản ủy quyền ngày 10/10/2023)
2. Bị đơn: B Nguy n Thị Thùy D, sinh năm 1970; Địa chỉ: Số B, đường T, Tổ C hóm C Phường A, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
Địa chỉ liên lạc: Số E đường N Phường A, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
Người đại diện theo ủy quyền của bà D: Ông Phạm Ho ng Đ sinh năm 1972; Địa chỉ: Số A đường V Phường A, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp. (Văn bản ủy quyền ngày 27/11/2023).
Địa chỉ liên lạc: Số G, Quốc lộ C phường M, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
3. 1. Ông Ngu n Thế , sinh năm 1974;
3. 2. Bà Nguy n Thị Mỹ X sinh năm 1981;
Cùng địa chỉ: Số B đường T, Tổ C hóm C Phường A, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp.
4. Người kháng cáo: Bà Ngu n Thị Nhã T là nguyên đơn.
ỘI U G VỤ :
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Nhã T trình bày:
Ngu n gốc phần đất của bà T do bà nội của bà T là Nguy n Thị H1 chuy n nhượng cho bà T. Bà T đã được UBND thị xã C cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất số W419114, cấp ng 19/5/2003. Năm 2006 b T đi l m thủ tục đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo sơ đ đo đạc tọa độ lưới. Sau khi UBND thị xã C đo đạc chính xác diện tích sử dụng thì đến ngày 28/11/2006, UBND thị xã C cấp giấ chứng nhận qu ền sử dụng đất mới cho bà số AB521179 diện tích 162 4m2, thuộc thửa 92, tờ bản đ số 11, tọa lạc tại Phường A, thị xã C, tỉnh Đ ng Tháp. Bà T xâ nh trên đất v o năm 2002.
Năm 2005 vợ ch ng anh trai của bà là Nguy n Thế K và Nguy n Thị Mỹ X có phần đất kế bên, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên khi cất nhà có xin bà T dựng nhờ vách trên phần đất của bà T. Do là anh em và nhà ông K là khung gỗ, vách tol, sau này di dời được nên bà T đ ng ý.
Ngày 23/7/2019, ông K và bà X chuy n nhượng phần diện tích đất 206,7m2, thửa số 197, tờ bản đ số 11, tọa lạc tại Phường A, thành phố C và căn nh trên đất cho bà Nguy n Thị Thùy D. Bà T có yêu cầu bà D tháo dỡ phần kết cấu nh trước đâ b cho ông K cất nhà sử dụng tạm phần đất của bà đ trả lại diện tích ngang trước là 1,5m, ngang sau 3m, chiều dài 20,1m, tổng diện tích 45,225m2 nhưng b D không đ ng ý. Hiện na b D cho vợ ch ng ông K và bà X thuê lại phần diện tích v nh trên đ sử dụng.
Nay bà T yêu cầu xác định ranh giới thửa đất số 92 của bà T với thửa đất 197 của bà D l đoạn thẳng nối từ các mốc 7, B, C, 8 (Mốc 8 cách mốc mốc 9 l 2 45m) theo sơ đ đo đạc ngày 30/6/2023 và yêu cầu bà D tháo dỡ, di dời các vật kiến trúc và trả lại phần diện tích đã lấn chiếm quyền sử dụng đất của bà trong phạm vi các mốc 6, 7, B, C, 8 (Mốc 8 cách mốc mốc 9 là 2,45m), 9, D, A, 6, 7, diện tích 28,5m2, thuộc một phần thửa 92, tờ bản đ số 11, tọa lạc tại Phường A, thành phố C.
- Bị đơn bà Nguyễn Thị Thùy D trình bày:
Ngày 23/7/2019, bà D có nhận chuy n nhượng của vợ ch ng ông K căn nh v đất diện tích 206,7m2, thuộc thửa 197, tở bản đ số 11. Khi chuy n nhượng trên đất có căn nhà cấp 4, nhà ở riêng lẻ, diện tích xây dựng 112,155m2. Việc chuy n nhượng giữa bà D với vợ ch ng ông K là hợp pháp, sau đó b D được Sở T i ngu ên v Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khi nhận chuy n nhượng không đo đạc mà chuy n nhượng hết diện tích thửa đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất v căn nh trên đất. Từ khi nhận chuy n nhượng đất đến nay bà D vẫn giữ nguyên hiện trạng thửa đất. Hiện na căn nh n b D cho vợ ch ng ông K thuê lại. Vì vậ b D không đ ng ý với yêu cầu của b Ngu n Thị Nhã T. Do hợp đ ng chuy n nhượng quyền sử dụng đất giữa bà D với ông K, bà X đã thực hiện xong nên bà D không có êu cầu xem xét hợp đ ng chuy n nhượng hai bên trong vụ án này.
Bà D xác định ranh giới thửa đất 197 của bà D với thửa đất số 92 của bà T l đoạn thẳng nối từ các mốc 6, A, D, 9 theo sơ đ đo đạc ngày 30/6/2023 và đ ng ý tháo dở t i sản trên đất của bà T; Ngoài ra bà T không có yêu cầu nào khác.
- Ông Nguyễn Thế K và bà Ngyễn Thị Mỹ X1 trình bày:
Ông K có mua phần đất của bà Nguy n Thị M và Nguy n Thị N vào năm 2004 (02 căn nh ). Ngu n gốc đất là của ông Nguy n Văn Q (ông nội của ông K) cho bà M ở trước năm 1975 đến khi ông K mua lại cho mẹ vợ là bà Tô Thị Mỹ D1 đứng tên r i tiếp tục chuy n sang tên cho vợ ông K là bà Nguy n Thị Mỹ X. Năm 2005 ông K xâ nh đúng với vị trí nhà của bà M và bà N, chiều ngang thực tế là 5,4m. Khi ông K làm thủ tục cấp giấy xong, ông K đã phát hiện việc lập thửa đất cho bà Nguy n Thị Nhã T hiện tại đã sai nhưng do anh em dòng họ nên không muốn tranh chấp. Theo tờ khai của b T trình bày nhà ông K vách tol, cột tạm v ông K lấn đất l không đúng. Nh ông K là nhà cấp 4, kết cấu bê tông cốt thép và có quyền sở hữu nh . Năm 2019, ông K, bà X chuy n nhượng đất và nhà cho bà D1.
Tại Bản án sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ng 09 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân th nh phố Cao Lãnh đã qu ết định:
- hông chấp nhận êu cầu của Ngu n Thị Nhã T;
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của b Ngu n Thị Nhã T tại thửa 92 với đất của bà Nguy n Thị Thùy D tại thửa số 197, cùng tờ bản đ số 11, đất tại phường A, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp l đoạn thẳng nối từ các mốc số 6 A D đến mốc 9. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian, tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo qu định của pháp luật.
( èm theo sơ đ đo đạc ngày 30/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C).
Các đương sự được đến cơ quan Nh nước có thẩm quyền đ điều chỉnh v đăng ký quyền sử dụng đất theo qu định pháp luật.
Ngo i ra bản án còn tu ên về án phí chi phí tố tụng quyền và thời hạn kháng cáo, quyền nghĩa vụ và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo qu định của pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10/8/2023, bà Ngu n Thị Nhã T là nguyên đơn kháng cáo to n bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm b T xác định kháng cáo yêu cầu xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của chị T với đất của chị Nguy n Thị Thùy D là những đoạn thẳng nốc từ các mốc 7- B - C - 8 – 9 và yêu cầu chị D phải di dời tài sản trả lại diện tích đất 28,5m2.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện ki m sát nhân dân Tỉnh, phát bi u việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán và Hội đ ng xét xử đảm bảo đúng qu định của Bộ luật tố tụng dân sự các đương sự tham gia tố tụng chấp hành tốt qu định của pháp luật v đề xuất hướng giải quyết l không chấp nhận kháng cáo của chị Ngu n Thị Nhã T giữ ngu ên bản án sơ thẩm.
NHẬ ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định:
* Về tố tụng:
[1] Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý giải quyết và xét xử vụ án đúng theo qu định Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà T kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định. Các đương sự vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Căn cứ v o Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đ ng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
* Về nội dung:
[2] Ngu n gốc đất của bà T là của cụ Nguy n Thị H1. Năm 2002 cụ H1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 170m2 thửa 657, tờ bản đ số 8 đất thổ. Năm 2003 b H1 tặng cho toàn bộ thửa đất lại bà T và bà T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 170m2 thửa 657, tờ bản đ số 8 đất thổ. Năm 2006 bà T được cấp đổi giấy chứng quyền sử dụng đất diện tích 162,4m2, thửa 92, tờ bản đ số 11 đất ở đô thị.
[3] Ngu n gốc đất của bà Nguy n Thị Thùy D là của cụ Nguy n Văn Q (chết) cho b Ngu n Thị M ở nhờ trước năm 1975. Năm 1993 bà M chuy n nhượng lại cho bà Tô Thị Mỹ D1. Năm 2009 hộ bà D1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 206,7m2, thửa 197, tờ bản đ số 11 đất ở đô thị đất tr ng câ lâu năm. Năm 2010 b M tặng cho toàn bộ thửa đất lại con là ông Nguy n Thế K và bà Nguy n Thị Mỹ X và ông K, bà X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2019 ông K, bà X chuy n nhượng đất lại cho bà Nguy n Thị Thùy D và bà D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 206,7m2 thửa 197 tờ bản đ số 11 đất ở đô thị đất tr ng câ lâu năm.
[4] Phần đất của bà T thửa 92, tờ bản đ số 11 tiếp giáp với đất của bà D (ông K) thửa 197, tờ bản đ số 11.
[5] Theo biên bản xác định ranh đất ngày 15/9/2006 (khi bà T cấp đổi giấ chứng nhận quyền sử dụng đất) thì phần đất của bà T chiều ngang là 8,5m, chiều dài 20,01m và theo biên bản đo đạc xác định ranh đất ngày 15/9/2009 thì phần đất của bà Tô Thị Mỹ D1 (nay là bà Thùy D) chiều ngang trước giáp đường T 4,59m, chiều ngang sau 5 6m. Tu nhiên theo sơ đ đo đạc ngày 30/6/2023 thì đất của b T chiều ngang trước 8,29m, chiều ngang sau 6 05m (chưa tính phần đất tranh chấp) thiếu nhưng biên bản ng 15/9/2006 bà Tô Thị Mỹ D1 không có ký tên, nên không đủ căn cứ xác định chiều ngang phần đất bà T l 8 5m. Đất của bà Thùy D ngang trước 4,60m, chiều ngang sau 5 55m (chưa tính chiều ngang phần đất tranh chấp) tương đối đủ so với biên bản xác định ranh ngày 15/9/2009.
[6] Quá trình sử dụng giữa đất của bà T với đất của ông K trước đâ không có trụ mốc xác định ranh (do ông K và bà T là anh em ruột). Theo đơn xin xác nhận ngày 26/12/2023 của ông Nguy n Phước T1, thì ông T1 là cha của ông K và bà T xác định: Năm 2004, ông T1 đứng ra cất nhà cho bà T thửa 92 có chừa chiều ngang 2m, dài hết đất khoảng 20m, giáp ranh với đất của ông K thửa 197. Năm 2005 vợ ch ng ông K, bà X cất nhà và giao cho ông T1 đứng ra trông coi việc xây dựng, nên ông T1 có bàn với với vợ ch ng ông K sử dụng nhờ vách nhà của bà T và có dựng một số cây cột cặp vách tường trên đất của bà T. Đ ng thời do đất của mẹ ông T1 là cụ Nguy n Thị H1 cho ông T1, nên ông T1 cho lại b T nh của b T cũng do ông T1 cất nên ông T1 có qu ền.
[7] Theo ông K, phần đất của ông K có chiều ngang 5 4m khi l m thủ tục cấp giấ xong ông K phát hiện sai nhưng do anh em nên ông K không có tranh chấp khiếu nại. Việc ông K trình b phần đất của ông K trước đâ có chiều ngang 5 4m được th hiện theo giấ ta mua bán ng 15/01/1993. Theo giấ mua bán ng 15/01/1993 thì b Ngu n Thị M chu n nhượng (bán) phần đất cho bà Tô Thị Mỹ D1 chiều ngang 5,4m, chiều dài 42m, có nhân chứng (bàn cận) là cụ Nguy n Thị H1 và ông Phước T1 ký tên.
[8] Ông K không thừa nhận mượn cũng như lấn chiếm phần đất của bà T nhưng b T (ông T1) không có chứng cứ chứng minh là cho ông K mượn, cũng như lấn chiếm đất.
[9] Mặt khác phần đất tranh chấp trong quá trình sử dụng gia đình ông K xâ dựng nh ở từ năm 2005 đến năm 2019 cũng không có phát sinh tranh chấp. hi gia đình ông K chu n nhượng nh đất lại cho bà Thùy D thì phát sinh tranh chấp. Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/4/2023, các bên xác định phần vách nhà là của bà T. Điều đó chứng tỏ b T mặc nhiên thừa nhận phần đất của gia đình ông K (bà Thùy D) đến vách nhà của bà T.
[10] Án sơ thẩm xử xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của bà T thửa 92 với đất của bà Thùy D thửa 197 là những đoạn thẳng nối từ các mốc 6-A-D-9 l có căn cứ. Bà T kháng cáo nhưng không có chứng cứ chứng minh bà Thùy D lấn chiếm đất, nên Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của b T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[11] Xét đề nghị của Viện ki m sát nhân dân tỉnh Đ ng Tháp là giữ nguyên bản án sơ thẩm l có căn cứ, nên Hội đ ng xét xử chấp nhận.
[12] Từ những cơ sở trên, Hội đ ng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[13] Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực k từ ngày hết hạn kháng cáo kháng nghị.
[14] Do kháng cáo của bà T không được chấp nhận, nên bà T phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾ ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 203 Luật đất đai; Điều 175 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủ ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp quản lý v sử dụng án phí v lệ phí tòa án.
- hông chấp nhận kháng cáo của b Ngu n Thị Nhã T.
- Giữ ngu ên Bản án sơ thẩm số 96/2023/DS-ST ng 09 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân th nh phố Cao Lãnh.
1. hông chấp nhận êu cầu của Ngu n Thị Nhã T;
Xác định ranh giới quyền sử dụng đất giữa đất của bà Nguy n Thị Nhã T tại thửa 92 với đất của bà Nguy n Thị Thùy D tại thửa số 197, cùng tờ bản đ số 11, đất tại phường A, thành phố C, tỉnh Đ ng Tháp l đoạn thẳng nối từ các mốc số 6 A D đến mốc 9. Ranh đất được sử dụng theo chiều thẳng đứng tính từ lòng đất đến không gian, tài sản của hai bên lấn chiếm ranh đất phải di dời theo qu định của pháp luật.
(Kèm theo biên bản thẩm định tại chỗ ng 12/4/2023 sơ đ đo đạc ngày 30/6/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai th nh phố C).
Các đương sự được đến cơ quan Nh nước có thẩm quyền đ điều chỉnh v đăng ký quyền sử dụng đất theo qu định pháp luật.
2. Về án phí:
Bà Ngu n Thị Nhã T phải nộp 300.000 đ ng tiền án phí dân sự sơ thẩm v 300.000 đ ng tiền án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm của bà T đã nộp 3.126.500 đ ng theo biên lai số 0007302 ng 26/10/2020 v biên lai số 0006821 ng 22/8/2023 được trừ vào tiền án phí. Bà T được nhận lại 2.526.500 đ ng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh.
Bà Nguy n Thị Thùy D không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về chi phí tố tụng là chi xem xét, thẩm định tại chỗ v định giá tài sản: Tổng cộng l 8.600.000 đ ng; Bà T phải chịu l 8.600.000 đ ng (bà T đã nộp v chi xong);
Trường hợp bản án được thi h nh theo qu định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi h nh án người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi h nh án theo qu định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo qu định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ng tu ên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đ ng Tháp; - Phòng TNV v THA TAND tỉnh ĐT; - TAND th nh phố Cao Lãnh; - Chi cục THADS th nh phố Cao Lãnh; - Đương sự; - Lưu: VT HSVA TDS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM ẨM - C Ủ Ọ IÊ Đã ký guyễn ấn ặng |