- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tẩn Mý Chiều, Tẩn Lềnh Sỉ"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tẩn Mý Ch.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/ST-HNGĐ Ngày 14/9/2023 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÌN HỒ, TỈNH LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng A Măng và bà Nguyễn Thị Giang
- Thư ký phiên tòa: Ông Chảo Hò Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: bà Đặng Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 9 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2023/QĐST – HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Tẩn Mý Ch, sinh năm: 2001; Nơi cư trú: bản Tả Ph, xã Tả Ph, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu; có mặt tại phiên tòa.
* Bị đơn: Anh Tẩn Lềnh S, sinh năm: 1993; Nơi cư trú: bản Tả Ph, xã Tả Ph, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu; Vắng mặt tại phiên tòa.
* Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Tẩn Diến S – sinh năm 1969 – có mặt Địa chỉ: bản Tả Ph, xã Tả Ph, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
Bà Tẩn Mí L – sinh năm 1973 – vắng mặt Địa chỉ: bản Tả Ph, xã Tả Ph, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.
Bà Tẩn Mỹ L – sinh năm 1977 – có mặt Địa chỉ: bản Diền Th, xã Tả Ng, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.
Ông Tẩn A Ph – sinh năm 1974 – có mặt Địa chỉ: bản Diền Th, xã Tả Ng, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
* Người phiên dịch: anh Phùng Xoang M – sinh năm 2001 – có mặt.
Địa chỉ: bản Nhiều S, xã Làng M, huyện Sìn H, tỉnh Lai Châu.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/02/20223 và lời khai tại phiên tòa, nguyên đơn chị Tẩn Mý Ch trình bày:
Tôi và anh Tẩn Lềnh S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện không ai ép buộc vào 13 tháng 12 năm 2019, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tả Phìn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu. Sau khi kết hôn cuộc sống gia đình bình thường. Đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, không hiểu nhau về nhiều mặt, không cùng quan điểm sống, anh Lềnh S hay có tính gen tuông vô cớ và những lần gen tuông tôi lại bị anh Sỉ chửi mắng tôi, đánh, tuy đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả nên tôi đã bỏ nhà ra đi đến nay. Tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ giải quyết ly hôn giữa tôi và anh Tẩn Lềnh S.
Về con chung: Tôi và anh Tẩn Lềnh S không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Tôi và anh Tẩn Lềnh S không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết. Đối với yêu cầu đòi tiền sính lễ của chồng và bố mẹ chồng tôi không đồng ý.
Về nợ chung: Tôi và anh Tẩn Lềnh S không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Đối với bị đơn anh Tẩn Lềnh S Tòa án đã triệu tập anh Tẩn Lềnh S để tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng anh không có mặt, không tiến hành được việc hòa giải theo thủ tục chung, kể từ khi thụ lý vụ án. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng liên quan đến việc giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đến ngày 05/6/2023 Tòa án đưa vụ án ra xét xử công khai sơ thẩm, anh Tẩn Lềnh Sỉ vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án không thu thập được tài liệu, chứng cứ, đến ngày 19/6/2023 anh Tẩn Lềnh S gửi bản Tường trình ghi ý kiến của anh Tẩn Lềnh Sỉ để giải quyết vụ, nếu ly hôn thì phía nhà vợ phải trả tiền sính lễ cho bố mẹ tôi số tiền 13.760.000 đồng. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và kết quả xác minh, thu thập chứng cứ để xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Tẩn Diến S và bà Tẩn Mí L là bố mẹ đẻ của bị đơn là anh Tẩn Lềnh S trình bày: con dâu tôi là Tẩn Mý Ch và con trai Tẩn Lềnh S sau khi kết hôn phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, hai bên gia đình đã động viên hai con về với nhau một thời gian nhưng không có kết quả gì. Hai con đã sống ly thân được hơn 02 năm, hiện không còn quan tâm đến nhau. Đối với việc ly hôn tôi yêu cầu nhà gái trả lại tiền sính lễ đã đưa nhà gái với tổng số tiền là 18.560.000 đồng (trong đó: 8.600.000 đồng tiền sính lễ, 800.000 đồng tiền lễ cho bà ngoại, 600.000 đồng tiền lễ cho anh trai vợ, 20 lít rượu x 20.000 đồng = 400.000 đồng, tiền đưa đón nhà gái lên nhà trai số tiền 1.500.000 đồng, 64kg lợn hơi x 65.000 đồng = 4.160.000 đồng, 01 đôi hoa tai vàng tây 2.500.000 đồng).
Bà Tẩn Mỹ L (mẹ đẻ chị Tẩn Mý Ch): con gái tôi Tẩn Mý Chiều và con rể Tẩn Lềnh S phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, hai bên gia đình đã động viên hai con về với nhau một thời gian nhưng không có kết quả gì, con gái tôi bỏ về nhà tôi. Hiện hai con đã ly thân với nhau được 02 năm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Gia đình anh Tẩn Lềnh Sỉ yêu cầu trả tiền sính lễ tổng số tiền là 13.760.000 đồng, Tẩn Lềnh S không hợp tác, vắng mặt và không cung cấp giấy tờ ly hôn nên gia đình tôi không đồng ý trả lại số tiền sính lễ 13.760.000 đồng. Nếu gia đình nhà trai nhất quyết yêu cầu trả lại sính lễ thì gia đình tôi yêu cầu nhà trai trả tiền công cho con gái tôi 11 tháng làm con dâu cho gia đình nhà trai với số tiền 30.000.000 đồng.
Ông Tẩn A Ph (bố đẻ chị Tẩn Mý Ch): con gái tôi Tẩn Mý Ch và con rể Tẩn Lềnh S phát sinh mâu thuẫn về tình cảm, hai bên gia đình đã động viên hai con về với nhau một thời gian nhưng không có kết quả gì, con gái tôi bỏ về nhà tôi. Hiện hai con đã ly thân với nhau được 02 năm, không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Gia đình anh Tẩn Lềnh Sỉ yêu cầu trả tiền sính lễ tổng số tiền là 13.760.000 đồng do Tẩn Lềnh Sỉ không hợp tác, vắng mặt và không cung cấp giấy tờ ly hôn nên gia đình tôi không đồng ý trả lại số tiền sính lễ 13.760.000 đồng. Nếu gia đình nhà trai nhất quyết yêu cầu trả lại sính lễ thì gia đình tôi yêu cầu nhà trai trả tiền công cho con gái tôi 11 tháng làm con dâu cho gia đình nhà trai.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhận dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu.
- Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, đã xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và Quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, tư cách pháp lý và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Người tham gia tố tụng nguyên đơn chị Tẩn Mý Chiều đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Vì vậy Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án vắng mặt bị đơn là có căn cứ pháp luật.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tẩn Mý Ch với anh Tẩn Lềnh S; Về con chung: chị Tẩn Mý Ch và anh Tẩn Lềnh S chưa có con chung nên không đề xem xét giải quyết; Tài sản chung, tài sản riêng, công nợ chung: chị Tẩn Mý Ch và anh Tẩn Lềnh S không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Tòa án không xem xét giải quyết; Không chấp nhận yêu cầu, ý kiến của anh Tẩn Lềnh S để giải quyết ly hôn thì nhà gái phải trả tiền sính lễ cho bố mẹ tôi số tiền 13.760.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu, ý kiến của Ông Tẩn Diến S và bà Tẩn Mí L là bố mẹ đẻ của bị đơn là anh Tẩn Lềnh Sỉ yêu cầu nhà gái trả lại tiền sính lễ đưa nhà gái với tổng số tiền là 18.560.000 đồng. Đối với đề nghị, ý kiến về kiện đòi tài sản sẽ giải quyết trong vụ việc khác nếu các bên có yêu cầu.
Về án phí: UBND xã Tả Phìn xác nhận gia đình thuộc khu vực đặc biện khó khăn, đồng thời chị Chiều có đơn xin miễn án phí dân sự sơ thẩm nên miễn án phí sơ thẩm cho chị Chiều.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện của chị Tẩn Mý Ch là quan hệ về “tranh chấp về ly hôn”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu theo khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Chị Ch có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị Chiều sinh sống tại xã đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm. Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ đã thụ lý vụ án để giải quyết yêu cầu khởi kiện của chị Chiều theo khoản 1 Điều 53 Luật Hôn nhân gia đình và Điều 195 BLTTDS.
Về thẩm quyền giải quyết: anh Tẩn Lềnh S cư trú tại bản Tả Phìn, xã Tả Phìn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
- Tại phiên tòa Bị đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Tẩn Mí Lụa vắng mặt đã ủy quyền cho ông Tẩn Diến Sì.
Về yêu cầu khởi kiện của chị Tẩn Mý Chiều.
Chị Tẩn Mý Ch và anh Tẩn Lềnh S là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tả Phìn, huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu vào ngày 13/12/2019, nên quan hệ vợ chồng của chị Chiều và anh Sỉ là hợp pháp. Hiện nay, tình cảm vợ chồng giữa chị Chiều và anh Sỉ không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị Chiều yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Sỉ theo quy định tại khoản 2 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tẩn Mý Chiều với anh Tẩn Lềnh Sỉ.
Về con chung: Chị Tẩn Mý Ch và anh Tẩn Lềnh S không có con chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: chị Tẩn Mý Ch và anh Tẩn Lềnh S không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Áp dụng Điều 457, Điều 458 Bộ luật dân sự: Hội đồng xét xử Không chấp nhận yêu cầu, ý kiến của anh Tẩn Lềnh S để giải quyết vụ ly hôn thì nhà vợ phải trả tiền sính lễ cho bố mẹ tôi số tiền 13.760.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu, ý kiến của Ông Tẩn Diến Sì và bà Tẩn Mí Lụa là bố mẹ đẻ của bị đơn là anh Tẩn Lềnh Sỉ yêu cầu nhà gái trả lại tiền sính lễ đưa nhà gái với tổng số tiền là 18.560.000 đồng. Đối với đề nghị về việc trả tiền sính lễ bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Sì, bà Lụa không cung cấp tài liệu chứng cứ nên đối với yêu cầu này giải quyết bằng vụ việc khác khi các bên có yêu cầu.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của đại diện VKS huyện Sìn Hồ tại phiên Tòa là có cơ sở pháp luật nên chấp nhận.
Về án phí: chị Tẩn Mý Chiều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chị Chiều có đơn xin miễn án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Chị Tẩn Mý Chiều được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 60, Điều 69, Điều 131 Luật Hôn nhân và gia gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 5; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227; Điều 228; Điều 271; Điều 272; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự; điểm đ Điều 12 Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tẩn Mý Ch. Về quan hệ hôn nhân chị Tẩn Mý Ch được ly hôn với anh Tẩn Lềnh S.
2. Về con chung: Chị Tẩn Mý Ch và anh Tẩn Lềnh S không có con chung nên Tòa án không xem xét giải quyết.
3. Về Tài sản chung, nợ chung: chị Tẩn Mý Ch và anh Tẩn Lềnh S không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Áp dụng Điều 457, Điều 458 Bộ luật dân sự: Hội đồng xét xử Không chấp nhận yêu cầu, ý kiến của anh Tẩn Lềnh Sỉ để giải quyết ly hôn thì bên nhà vợ phải trả tiền sính lễ cho bố mẹ tôi số tiền 13.760.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu, ý kiến của Ông Tẩn Diến S và bà Tẩn Mí L là bố mẹ đẻ của bị đơn là anh Tẩn Lềnh S yêu cầu nhà gái trả lại tiền sính lễ đưa nhà gái với tổng số tiền là 18.560.000 đồng.
4. Về án phí: chị Tẩn Mý Ch được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Chị Tẩn Mý Ch được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Tẩn Lềnh S vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lai Châu; - VKSND huyện Sìn Hồ; - Chi cục THADS huyện Sìn Hồ; - UBND xã Tả Phìn; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. HỘI THẨM NHÂN DÂN TÒA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Tuấn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN |