vanban.org

Bản án 19/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 29/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Tr phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn Tr 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Hợp Ph, huyện Cao Ph, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Tr phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 L…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Tr phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CAO PH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HS – ST
Ngày: 25/7/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PH – TỈNH HÒA BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Bá Viên và bà Lê Thị Thanh Thủy

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Cao Ph.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Ph tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuận – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 23/2023/TLST – HS ngày 30 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2023/QĐXXST – HS ngày 10 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Văn Tr, sinh ngày 20/4/1997 tại Cao Ph, Hòa Bình; Nơi cư trú: Xóm Cạn Th, xã Hợp Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Mường; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Kế toán Công ty TNHH thương mại dịch vụ tư vấn CES; Con ông: Bùi Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị K, sinh năm 1971; Vợ, Con: Chưa có.

Tiền án, Tiền sự: Không

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Anh Bùi Văn Th, sinh ngày 02/7/1997

Nơi cư trú: Xóm Cạn Th, xã Hợp Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình

Anh Th chết ngày 20/01/2023 (do tai nạn giao thông)

Người đại diện hợp pháp cho bị hại:

1. Ông Bùi Văn Th (bố đẻ anh Th), sinh năm 1975

2. Bà Bùi Thị Đ (mẹ đẻ anh Th), sinh năm 1975

Cùng cư trú tại: Xóm Cạn Th, xã Hợp Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình

Bà Đ ủy quyền cho ông Th tham gia tố tụng; Ông Th có mặt.

3. Cháu Bùi Thiên Ph (con đẻ anh Th), sinh ngày 29/4/2018

Người giám hộ cho cháu Phú là chị Bùi Thị L, sinh năm 1999 (mẹ đẻ cháu Ph).

Chị L và anh Th đã ly hôn. Chị L vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: Xóm Ong, xã Nam Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị K, sinh năm 1971; Có mặt

Nơi cư trú: Xóm Cạn Th, xã Hợp Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình

Người làm chứng:

Anh Bùi Thế A, sinh năm 1980; Vắng mặt.

Nơi cư trú: Khu 4, thị trấn Cao Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Văn Tr là người có giấy phép lái xe mô tô hạng A1 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Hòa Bình cấp.

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 19 tháng 01 năm 2023, Trường điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, Biển kiểm soát 29K1 – 670.48 đến nhà anh Bùi Văn Th (cùng xóm) ăn tất niên. Tại đây, Tr đã uống rượu cùng Th và mọi người. Đến khoảng 18 giờ 30 phút, Trường rời khỏi nhà Thắng và tiếp tục đến nhà anh họ là Bùi Văn Kiểm (gần nhà Tr) ăn cơm, uống rượu tiếp. Đến khoảng 21 giờ, Tr về nhà nằm nghỉ, được một lúc thì cháu Bùi Hà Nh, sinh năm 2007 liên lạc qua ứng dụng Messenger rủ xuống cầu Cạn Th chơi nên Tr đã điều khiển xe mô tô qua nhà đón Nh. Khi xuống tới cầu, Tr gặp anh Bùi Văn Q và Bùi Văn Th.

Do có quen biết nhau từ trước nên sau khi chơi ở cầu Cạn Th thì Tr, Th, Nh, Q rủ nhau đi hát Karaoke tại quán Karaoke Sao Băng thuộc khu 4, thị trấn Cao Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình. Tr điều khiển xe mô tô của mình chở Bùi Hà Nh, còn Bùi Văn Q và Bùi Văn Th đi một xe mô tô đến quán hát. Tại quán Karaoke, Tr, Th, Nh, Q cùng hát và cùng uống bia đến khoảng 23 giờ cùng ngày thì nghỉ. Khi đi về thì Tr điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát: 29K1-670.48 chở sau là Bùi Văn Th, còn Nh và Q đi cùng nhau. Khi đến đoạn đường liên xã Thị trấn Cao Ph đi Hợp Ph cách đường Quốc lộ 6 khoảng 01 km thì Th có biểu hiện ngủ gật nên Tr dùng tay trái giữ Th và tiếp tục điều khiển xe bằng tay phải. Do chỉ điều khiển xe bằng một tay và đi với tốc độ cao nên Tr bị mất lái, xe mô tô lao sang phần đường bên trái và đâm xuống rãnh thoát nước. Hậu quả Tr và Th bị thương được đưa đi cấp cứu đến ngày 20/01/2023 Th tử vong. Xe mô tô bị hư hỏng phần đầu.

Biên bản khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Nơi xảy ra tai nạn là tại đường liên xã thị trấn Cao Ph – Hợp Ph thuộc địa phận khu 4, thị trấn Cao Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình. Chọn mép đường trái hướng thị trấn Cao Ph đi xã Hợp Ph làm mép đường chuẩn. Đây là đoạn đường được dải bê tông, lòng đường rộng 3m60, bên trái lòng đường là lề đường và rãnh thoát nước, lề đường rộng 1m, rãnh thoát nước rộng 1m20. Sau tai nạn xe mô tô BKS 29K1 – 670.48 nằm dưới rãnh thoát nước bên trái đường, đầu xe hướng xã Hợp Ph, đuôi xe hướng Quốc lộ 6. Hiện trường có 06 dấu vết do xe mô tô để lại được đánh số: (1) là vết cày trượt sục đất diện (5m70 x 0m40); (2)(3) là vết cà trượt có diện lần lượt là (0m30x0m15) và (0m57x0m20); (4)(6) là vết tóc có diện lần lượt là (0m04x0m03) và (0m05x0m05); (5) là vết máu có diện (0m30x0m10). Tâm vết (5) cách trục trước xe mô tô là 0m86 và cách trục sau xe mô tô là 1m40. Trục sau xe mô tô đến cuối vết (2) 0m53, đến cuối vết (3) 1m30.

Căn cứ kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm dấu vết phương tiện, cùng các tài liệu điều tra, xác minh xác định: Khi xảy ra tai nạn xe mô tô BKS 29K1 – 670.48 do Bùi Văn Tr điều khiển không va chạm với người hay phương tiện nào khác.

Kết quả khám nghiệm dấu vết phương tiện xác định: Phương tiện xe mô tô BKS 29K1- 670.48 bị hư hỏng phần đầu.

Kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe mô tô Biển kiểm soát 29K1- 670.48 hệ thống phanh sau còn hiệu lực, hệ thống phanh trước không kiểm tra được bị hư hỏng sau tai nạn, hệ thống lái bị hư hỏng sau tai nạn không kiểm tra được.

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 21/TT- CAT- PC09 ngày 30/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hòa Bình xác định:

1. Dấu hiệu chính qua giám định: Nạn nhân bị chấn thương vùng đầu, mặt, bả vai, mỏm vai, ngực, tay, chân do tác động va đập với vật tày rắn gây nên các tổn thương: Vỡ xương hộp sọ, gẫy xương sườn và nhiều vết xây sát, mài mòn, rách da, bầm tím trên cơ thể nạn nhân.

2. Nguyên nhân chết: Nạn nhân chết do chấn thương sọ não”.

Hồi 00 giờ 41 phút ngày 20/01/2023 Đội cảnh sát giao thông- Trật tự Công an huyện Cao Ph tiến hành kiểm tra nồng độ cồn đối với Bùi Văn Tr, kết quả đo nồng độ cồn là 0,653mg/lít khí thở.

Cáo trạng số: 14/CT – VKSCP ngày 30 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình đã truy tố Bùi Văn Tr về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn Tr khai nhận hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như đã nêu ở trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Ph giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời phân tích các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Tr phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn Tr mức án 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách là 60 tháng.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Bùi Văn Tr.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường tổng số tiền 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng). Bị cáo đã bồi thường đủ. Gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm đồng thời có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo do đó đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận bồi thường của các bên.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo Bùi Văn Tr: 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 mang tên Bùi Văn Tr (hiện đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án). Ngoài ra Viện kiểm sát còn đề nghị về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Người đại diện hợp pháp của bị hại ông Bùi Văn Th: Không có ý kiến gì tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự, phía gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận về trách nhiệm dân sự, tổng số tiền 100.000.000 đồng. Trong đó bồi thường cho gia đình tôi 80.000.000 đồng, bồi thường cho cháu Bùi Thiên Ph (con trai anh Thắng) 20.000.000 đồng. Tại phiên tòa ông Th không có ý kiến gì thêm đối với bị cáo.

Bị cáo không có ý kiến gì tranh luận chỉ xin Hội đồng xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Ph, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Ph, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn Tr khai nhận: Bị cáo đã có giấy phép lái xe theo quy định. Sau khi đã sử dụng rượu, bia. Khoảng 23 giờ ngày 19/01/2023 bị cáo Trường điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Winner, Biển kiểm soát 29K1 – 670.48 chở sau là anh Bùi Văn Th tham gia giao thông đi theo đường liên xã thị trấn Cao Ph - xã Hợp Ph. Khi đi đến khu 4, thị trấn Cao Ph, huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình, do đã sử dụng rượu bia và không làm chủ được tốc độ nên xe do bị cáo điều khiển đã đâm xuống rãnh thoát nước bên trái đường. Hậu quả làm anh Bùi Văn Th tử vong.

Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, Biên bản khám nghiệm phương tiện, Biên bản khám nghiệm tử thi, sơ đồ hiện trường, kết luận giám định cũng như các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn Tr phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Ph, tỉnh Hòa Bình đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Khi điều khiển xe tham gia giao thông không chấp hành quy định về an toàn giao thông đường bộ, trong hơi thở có nồng độ cồn 0,653mg/lít khí thở, không làm chủ tốc độ. Vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ được sửa đổi, bổ sung theo khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia năm 2019, vi phạm khoản 3 Điều 4, Thông tư liên tịch số 31/2019/TT- BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ. Vì vậy cần có mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do bị cáo gây ra để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đã tích cực bồi thường khắc phục hậu quả, gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm đồng thời có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng,có đủ điều kiện được rèn luyện, cải tạo tại địa phương nên chưa cần thiết buộc bị cáo phải đi chấp hành hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự xét xử cho bị cáo được hưởng án treo, giao về chính quyền địa phương phối hợp cùng gia đình theo dõi, giám sát cũng đủ tính răn đe, giáo dục.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và bồi thường thiệt hại:

Sau khi phạm tội gia đình bị cáo và đại diện gia đình bị hại đã tự nguyện thỏa thuận các khoản chi phí: Tiền cấp cứu, chi phí nằm viện, tiền mai táng phí, tiền tổn thất tinh thần do tính mạng bị xâm phạm và các chi phí khác tổng số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng). Trong đó gia đình ông Bùi Văn Th 80.000.000 đồng; cháu Bùi Thiên Ph (con trai anh Thắng 20.000.000 đồng). Ông Th, người giám hộ cho cháu Ph là chị Bùi Thị L không có yêu cầu gì thêm đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc tự nguyện thoả thuận bổi thường giữa các bên.

Về xử lý vật chứng:

- 01 (một) xe mô tô BKS 29K1- 670.48; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Bá Tùng; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự; 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe mô tô, xe máy. Quá trình điều tra xác định không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên ngày 05/6/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Ph đã ra quyết định số 10/QĐ-ĐTTH xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho bị cáo Bùi Văn Tr. Bị cáo đã nhận lại tài sản, không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 170152004176 do Sở giao thông vận tải Hòa Bình cấp ngày 23/6/2015 mang tên Bùi Văn Tr (đang lưu giữ trong hồ sơ vụ án). Xét thấy đây là giấy tờ của bị cáo, Hội đồng xét xử không cấm hành nghề nên tuyên trả lại cho bị cáo Bùi Văn Tr.

Đối với một USB ghi dữ liệu hỏi cung bị can ghi hình có âm thanh là tài liệu chứng cứ tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự

2. Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn Tr phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

3. Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn Tr 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Hợp Ph, huyện Cao Ph, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo pháp luật về thi hành án hình sự.

"Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo"

4. Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị cáo Bùi Văn Tr: 01 (một) Giấy phép lái xe mô tô hạng A1 số 170152004176 do Sở giao thông vận tải Hòa Bình cấp ngày 23/6/2015 mang tên Bùi Văn Tr (hiện đang được lưu giữ trong hồ sơ vụ án).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội. Bị cáo Bùi Văn Tr phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết hợp lệ tại Trụ sở ủy ban nơi thường trú.

Cỡ chữ