- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ TỈNH QUẢNG NINH ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HS-ST Ngày 12-01-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Kim Loan và bà Nguyễn Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hải Lê - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hải Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 12 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 196/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 221/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn T; tên gọi khác: không; sinh ngày 15/5/1995, tại thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: phường N, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; trình độ học vấn: lớp 05/12; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức C và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 29/9/2011 bị đưa vào trường giáo dưỡng số 02, Tổng cục thi hành án hình sự - Hỗ trợ tư pháp do có hành vi trộm cắp tài sản, ngày 01/5/2013 trở về địa phương; ngày 18/3/2014, bị Công an thành phố Uông Bí xử phạt hành chính do có hành vi trộm cắp tài sản; ngày 24/9/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 09 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, ngày 05/4/2021 chấp hành xong toàn bộ bản án; ngày 31/8/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí xử phạt 15 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”, ngày 21/3/2019 chấp hành xong bản án; ngày 04/12/2018, bị Công an phường Phương Nam, thành phố Uông Bí xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 05/12/2018 nộp phạt theo quy định; bị cáo bị bắt quả tang ngày 18/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; có mặt.
* Người chứng kiến: Anh Mai Văn Q và ông Nguyễn Tiến L, đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 35 phút ngày 18/9/2022, tại khu vực phường D, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác Công an xã Cẩm Hải, thành phố Cẩm Phả phối hợp với Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Cẩm Phả phát hiện, bắt quả tang Bùi Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,222 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Vật chứng thu giữ: thu trong tay trái của T 01 túi nilon kích thước (3x3)cm bên trong chứa 0,222 gam tinh thể màu trắng, T khai là ma túy đá; 01 điện thoại Narzo màu ghi xám, lắp sim số 0976.167.195.
Bản kết luận giám định số 1552/KL - KTHS ngày 25/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: chất tinh thể màu trắng thu giữ của T là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,222 gam.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Bùi Văn T khai nhận: T thường xuyên sử dụng ma túy từ năm 2015, khoảng 02 giờ ngày 18/9/2022, T đi xe khách từ nhà xuống phường D để chơi với bạn. Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, khi đến khu vực trung tâm phường D, T có ý định tìm mua ma túy đá để sử dụng, T đi đến cầu vượt gặp và mua của người đàn ông không rõ lai lịch 01 túi ma túy đá với giá 300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy T cầm trong tay trái đi đến khu vực cây xăng, thuộc phường D để tìm chỗ sử dụng bị Công an bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Người chứng kiến anh Mai Văn Q và ông Nguyễn Tiến L trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện về thời gian, địa điểm, vật chứng thu giữ được phù hợp với lời khai nhận của bị cáo Bùi Văn T.
Tại bản cáo trạng số 206/CT- VKSCP ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố Bùi Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma tuý” thời hạn tù tính từ ngày 18/9/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận; tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Cẩm Phả, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự .Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: tại phiên toà bị cáo Bùi Văn T khai nhận về hành vi phạm tội đúng với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và tạm giữ đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, cũng như Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; phù hợp với lời khai của những người chứng kiến cùng với các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: vào hồi 07 giờ 35 phút ngày 18/9/2022, tại phường D, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Văn T có hành vi tàng trữ trái phép 0,222 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an thành phố Cẩm Phả bắt quả tang. Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như Cáo trạng số 206/CT- VKSCP ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
...
c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;...”
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu được tác hại của ma tuý đối với xã hội và sự nghiêm cấm của pháp luật đối với hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhưng do ý thức chấp hành pháp luật kém bị cáo vẫn thực hiện hành vi nêu trên. Hành vi của bị cáo góp phần làm gia tăng tệ nạn ma túy tại địa phương, gây mất trật tự, trị an xã hội. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.
Về nhân thân: bị cáo trước đây đã xử phạt hành chính, đưa vào Trường giáo dưỡng và bị kết án về tội “trộm cắp tài sản”. Vì vậy Hội đồng xét xử cần xem xét yếu tố nhân thân khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt:
Hình phạt chính: Căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ của hành vi phạm tội và trọng lượng chất ma túy bị cáo bị truy tố, xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định số 1552/KL-KTHS ngày 25/9/2022 còn nguyên dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, là vật chứa vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 chiếc điện thoại Narzo, bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Đối với người bán ma túy cho T, do không rõ lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/9/2022.
2. Căn cứ: điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình.
Tịch thu tiêu hủy: 0,17 gam Methamphetamine còn lại sau giám định được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong số 1552/KL-KTHS ngày 25/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh; còn nguyên dấu niêm phong.
Trả lại cho bị cáo T 01 (một) điện thoại Narzo, màu xám ghi, máy có nhiều vết trầy xước kèm sim (không xác định số sim).
Tình trạng của những vật chứng, tài sản nêu trên như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 78/BB-THA ngày 06/01/2023 giữa Công an thành phố Cẩm Phả và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.
3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND TP. Cẩm Phả; - Cơ quan CSĐT CA TP Cẩm Phả, - Cơ quan THAHS CA TP Cẩm Phả; - TTG Công an tỉnh Quảng Ninh; - CCTHADS thành phố Cẩm Phả; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, lưu văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Phạm Văn Thành |