vanban.org

Bản án 19/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 30/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 11 năm 2022. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Hoàng Văn K 5.000.000 (năm triệu) đồng, để nộp vào ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Văn K - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN LÃNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HS-ST
Ngày 30-3-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Máy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Công Tâm;

Bà Chu Thị Bời.

- Thư ký phiên toà: Bà Lăng Thị Em - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Bà Đinh Thị Lệ Vân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 3 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm là trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 02 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Hoàng Văn K, tên gọi khác: Không; sinh ngày 22 tháng 6 năm 1979, tại huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S và bà Hoàng Thị T; có vợ: Nông Thị L, sinh năm 1975; có 02 con, con lớn sinh năm 2002, con nhỏ sinh năm 2006; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Theo bản án số 15/2014/HSST ngày 28/3/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm tù về tội Vận chuyển tiền giả (đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/11/2022; tạm giam ngày 23/11/2022, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đến nay. Có mặt tại điểm cầu thành phần.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Anh Hoàng Đức T, sinh năm 1990. Vắng mặt.

2. Anh Bế Viết H, sinh năm 1995. Vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Hoàng Đức Q, sinh năm 1990. Vắng mặt.

Người chứng kiến: Anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 1982. Vắng mặt.

- Người hỗ trợ tổ chức phiên tòa tại điểm cầu thành phần:

1. Bà Chu Thanh Huyền - Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn;

2. Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn;

3. Ông Vương Thanh Tân - Chiến sỹ thuộc Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 17/11/2022, tổ công tác Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đang làm nhiệm vụ tại khu vực bờ suối thuộc thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, phát hiện 02 thanh niên ngồi xổm, có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy, tổ công tác đã tiến hành kiểm tra, 02 thanh niên lần lượt khai nhận họ tên là Hoàng Đức T, Bế Viết H đang sử dụng ma túy, nguồn gốc số ma túy mua với Hoàng Văn K. Tổ công tác đã đưa Hoàng Đức T, Bế Viết H cùng tang vật về trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn lập biên bản sự việc. Tài liệu, đồ vật thu giữ, tạm giữ gồm: Thu giữ của Hoàng Đức T gồm: 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 02 vỏ lọ thủy tinh có chữ “NOVOCAIN”, 01 gói nhựa màu vàng kích thước 0,5x2cm một đầu được bịt kín; thu giữ của Bế Viết H gồm: 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 01 bật lửa ga màu đỏ.

Căn cứ lời khai của Hoàng Đức T, Bế Viết H, cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã thi hành Lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hoàng Văn K và tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Hoàng Văn K tại thôn N, xã H, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Qua khám xét thu giữ đồ vật, tài liệu gồm: 01 ví giả da màu nâu; 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Văn K; 6.600.000 (sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng; 01 ống nhựa màu vàng dài 12cm, 01 đầu được vót nhọn, 01 đầu được bịt kín; 02 ống nhựa màu vàng mỗi ống dài 20cm; 01 ống nhựa màu hồng dài 10cm; 03 gói nhựa màu vàng, 02 gói nhựa màu trắng và 01 gói nhựa màu hồng, tất cả các gói nhựa đều chứa chất bột màu trắng, nghi là chất ma túy Heroine.

Tại bản kết luận giám định số: 25/KL-KTHS ngày 21/11/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 03 gói nhựa màu vàng, 02 gói nhựa màu trắng và 01 gói nhựa màu hồng tất cả thu giữ của Hoàng Văn K gửi giám định đều là chất ma túy Heroine, có tổng khối lượng 0,429 gam (đã trừ bì).

Tại Bản kết luận giám định số 88/KL-KTHS ngày 20/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Toàn bộ số tiền Việt Nam 6.600.000 (sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng gửi giám định đều là tiền thật.

Quá trình điều tra Hoàng Văn K khai nhận: Bản thân nghiện chất ma túy và đi mua ma túy về để sử dụng và kiếm lời, bị cáo đi đến khu vực H, thuộc xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, mua ma túy với một người đàn ông khoảng 45 tuổi, mang về chia nhỏ để sử dụng và bán, bị cáo chỉ nhớ bán lần gần nhất là khoảng 18 giờ ngày 13/11/2022 bán cho Hoàng Đức T 01 gói giá 200.000 đồng; khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/11/2022, bán cho Hoàng Đức T 01 gói giá 200.000 đồng, việc mua bán ma túy chỉ có bị cáo và T thực hiện, bị cáo không biết được T, H và Q góp tiền mua ma túy với bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 22/02/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Hoàng Văn K ra trước Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn để xét xử bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, như cáo trạng đã nêu. Bị cáo thấy việc làm của mình là sai vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án từ 08 năm đến 09 năm tù.

Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo từ 5.000.000 đến 8.000.000 đồng, để nộp ngân sách Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn lại sau giám định; 01 bơm kim tiêm, 02 vỏ lọ thủy tinh có chữ “NOVOCAIN”, 01 gói nhựa màu vàng kích thước 0,5x2cm một đầu được bịt kín; 01 mảnh giấy bạc, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 ống nhựa màu vàng dài 12cm, 01 đầu được vót nhọn, 01 đầu được bịt kín; 02 ống nhựa màu vàng mỗi ống dài 20cm; 01 ống nhựa màu hồng dài 10cm. Trả lại cho bị cáo 01 căn cước công dân mang tên Hoàng Văn K, 01 ví giả da màu nâu và 6.400.000 đồng (tạm giữ để đảm bảo thi hành án); tịch thu 200.000 đồng do bán ma túy cho Hoàng Đức T mà có, để nộp ngân sách Nhà nước; truy thu của bị cáo Hoàng Văn K 200.000 đồng, là tiền bán ma túy cho anh Hoàng Đức T ngày 13/11/2022 mà có, để nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đã được tống đạt các văn bản quyết định tố tụng và thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng theo quy định của pháp luật.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là anh Hoàng Đức T, Bế Viết H. Tuy nhiên xét thấy phiên tòa xét xử đối với bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nói trên vắng mặt, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy việc vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nói trên không ảnh hưởng đến việc xét xử. Quá trình điều tra anh Hoàng Đức T, Bế Viết H không yêu cầu trả lại đồ vật tạm giữ, đề nghị tiêu hủy. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo đã khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Từ những phân tích trên có đủ cơ sở xác định như sau: Vào các ngày 13/11/2022 và ngày 17/11/2022, bị cáo Hoàng Văn K bán ma túy cho Hoàng Đức T 02 lần mỗi lần 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng/gói.

Do đó có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hoàng Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, tiếp tay làm lan truyền tệ nạn nghiện hút ma túy, gây nguy hại rất lớn cho xã hội về nhiều mặt, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi phạm tội của bị cáo bị nhân dân lên án mạnh mẽ và bị pháp luật nghiêm cấm. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa giáo dục chung. Tuy vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo.

Về nhân thân: Theo bản án số 15/2014/HSST ngày 26/3/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 07 năm tù về tội Vận chuyển tiền giả (đã được xóa án tích), nhưng bị cáo là người có nhân thân không tốt.

Về tình tiết tăng nặng: Ngoài tình tiết tăng nặng định khung, bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng”, tại kết quả xác minh ngày 23/11/2022 bị cáo không đứng tên tài sản chung, tài sản riêng gì có giá trị. Tuy vậy, bị cáo có số tiền đang tạm giữ, nên áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Ý kiến Kiểm sát viên, đề nghị mức án đối với bị cáo, xử lý vật chứng, phù hợp với quy định của pháp luật, nên được chấp nhận.

Đối với người đàn ông khoảng 45 tuổi bán ma túy cho bị cáo tại khu vực H, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, nhưng bị cáo không biết họ, tên địa chỉ của người đàn ông trên, nên Cơ quan điều tra không tiến hành xác minh, làm rõ được.

Đối với anh Hoàng Đức T, Bế Viết H, Hoàng Đức Q là người nghiện góp tiền để Hoàng Đức T đi mua ma túy với bị cáo về cùng sử dụng, số ma túy đã sử dụng hết. Cơ quan điều tra đã tách và chuyển hồ sơ tới Ủy ban nhân dân xã nơi anh Hoàng Đức T, Bế Viết H, Hoàng Đức Q cư trú đưa vào diện quản lý đối tượng nghiện theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng của vụ án: Đối với số ma túy hoàn lại mẫu vật sau giám định, là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu, tiêu hủy; đối với 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng, 02 vỏ lọ thủy tinh có chữ “NOVOCAIN”, 01 gói nhựa màu vàng kích thước 0,5x2cm một đầu được bịt kín, thu giữ của Hoàng Đức T; 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 01 bật lửa ga màu đỏ, thu giữ của Bế Viết H; 01 ống nhựa màu vàng dài 12cm, 01 đầu được vót nhọn, 01 đầu được bịt kín; 02 ống nhựa màu vàng mỗi ống dài 20cm; 01 ống nhựa màu hồng dài 10cm, thu giữ của bị cáo, là vật không có giá trị, tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, là tiền bị cáo bán ma túy cho Hoàng Đức T, còn lại 6.400.000 (sáu triệu hai trăm nghìn) đồng, là tiền do bị cáo bán hồng mà có, nên trả lại cho bị cáo.

Truy thu của bị cáo 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, là tiền bán ma túy cho Hoàng Đức T ngày 13/11/2022 mà có, để nộp ngân sách Nhà nước.

Về án phí: Bị cáo là người bị kết án, nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251, Điều 38, Điều 46, khoản 1 Điều 47, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Căn cứ khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn K 08 (tám) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 17 tháng 11 năm 2022.

3. Hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Hoàng Văn K 5.000.000 (năm triệu) đồng, để nộp vào ngân sách Nhà nước.

4. Về xử lý vật chứng:

4.1. Tịch thu, tiêu hủy gồm: Số ma túy hoàn lại mẫu vật sau giám định niêm phong trong 01 phong bì thư có chữ “QT Hoàng Văn K” (cũ), có chữ ký cùng tên giám định viên Hoàng Mạnh Hà, trợ lý giám định và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có 01 gói giấy đựng 0,354 gam chất ma túy Heroine (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (cũ); 01 bơm kim tiêm đã qua sử dụng; 02 lọ thủy tinh có chữ “NOVACAIN” đã qua sử dụng; 01 đoạn ống nhựa màu vàng kích thước 0,5x2cm một đầu được bịt kín; 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 ống nhựa màu vàng dài 12cm, một đầu được vót nhọn, một đầu được bịt kín; 02 ống nhựa màu vàng mỗi ống dài 20cm; 01 ống nhựa màu hồng dài 10cm.

4.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, (trong tổng số tiền 6.600.000 (sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng, niêm phong trong 01 phong bì thư ghi chữ “Tiền Hoàng Văn K”.

4.3. Trả lại cho bị cáo Hoàng Văn K gồm: 01 ví giả da màu nâu; 01 thẻ căn cước công dân số 02007900***7 và 6.400.000 (sáu triệu hai trăm nghìn) đồng (trong tổng số tiền 6.600.000 (sáu triệu sáu trăm nghìn) đồng, niêm phong trong 01 phong bì thư ghi chữ “Tiền Hoàng Văn K”, tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Các vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/02/2023).

5. Biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Hoàng Văn K 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, để nộp ngân sách Nhà nước.

6. Về án phí: Buộc bị cáo Hoàng Văn K phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ