vanban.org

Bản án 19/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tiên Lãng, TP. Hải Phòng Tuyên án 26/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 14 tháng 3 năm 2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Nguyễn Văn K phạm tội tàng trữ trái phép chất ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HS-ST
Ngày 26 - 6 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Duy Thạch

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Đức Bình

Ông Nguyễn Hữu Bình

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên – Thư ký Toà án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Nguyện – Kiểm sát viên.

- Người tiến hành tố tụng khác: Bà Trần Thị Thơm – Cán bộ Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng.

Ngày 26 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến (điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng; điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ – Công an huyện T, thành phố Hải Phòng) vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 6 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn K – sinh năm 1985, tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 2/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị X; vợ: Bùi Thị Q và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 14 tháng 3 năm 2023, chuyển tạm giam ngày 17 tháng 3 năm 2023; có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Nguyễn Ngọc H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Với mục đích đi mua ma tuý để sử dụng cho bản thân nên trưa ngày 14 ngày 3 năm 2023, Nguyễn Văn K điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 14Z1 – 268.95 đi từ nhà ở thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương đến khu vực cánh đồng thuộc thôn G, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tại đây, Nguyễn Văn K đã mua của 01 người đàn ông không quen biết 02 gói ma tuý (loại heroine) với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, Nguyễn Văn K sử dụng hết 01 gói, còn lại 01 gói thì K cho vào túi quần đang mặc ở phía trước bên trái rồi điều khiển xe đi về nhà. Khi đi đến khu vực bến đò M thuộc thôn G, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng thì bị Công an huyện T, thành phố Hải Phòng kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ bao gồm: Thu giữ tại túi quần đang mặc ở phía trước bên trái 01 gói giấy màu trắng, kích thước 2 x 0,9cm bên trong chứa chất bột màu trắng 01 xe mô tô Biển kiểm soát 14Z1 – 268.95. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tôi quả tang và đưa Nguyễn Văn K cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở để làm việc.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn K không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì có liên quan.

Tại kết luận giám định số 251/KL-KHHS(MT) ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,19 gam, là loại Heroine.

Kết quả xét nghiệm của Cơ sở cai nghiện ma tuý số 02 – Thành phố Hải Phòng kết luận: Nguyễn Văn K dương tính với ma tuý, loại Heroine.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn K khai nhận đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ các vật chứng như đã nêu ở trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn K khai nhận: Do bản thân mắc nghiện ma túy nên đã có hành vi đi mua ma túy về để sử dụng và bị bắt giữ vào thời gian, địa điểm trên. Số tiền dùng để mua ma túy là của bị cáo; việc tàng trữ trái phép chất ma túy là do một mình bị cáo thực hiện, không có ai khác cùng tham gia. Ngoài việc mua ma túy để sử dụng cho bản thân thì không còn có mục đích gì khác.

Công bố lời khai người chứng kiến có nội dung như bị cáo Nguyễn Văn K đã khai nhận tại phiên tòa.

Tại Cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 07 tháng 6 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Sau phần xét hỏi công khai tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 15 đến 21 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn K từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung công quỹ nhà nước.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1 và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì mẫu vật.

Tịch thu sung công 01 xe mô tô Biển kiểm soát 14Z1 – 268.95

Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn K đã ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang do Công an huyện T lập vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 14 tháng 3 năm 2023, phù hợp với Bản kết luận giám định số 251/KL-KHHS(MT) ngày 16 tháng 3 năm 2023 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố Hải Phòng; phù hợp với lời khai người chứng kiến; phù hợp với vật chứng đã được thu giữ, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn K đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,19 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân bị phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bến đò M thuộc thôn G, xã Đ, huyện T, thành phố Hải Phòng vào hồi 13 giờ 00 phút ngày 14 tháng 3 năm 2023.

[3] Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, gây mất trật tự trị an xã hội, gây nguy hiểm cho xã hội. Như vậy, hành vi tàng trữ trái phép 0,19 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của bị cáo Nguyễn Văn K đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tính chất vụ án là nghiêm trọng; việc mua bán, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma tuý không chỉ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, trí lực của con người, mà từ ma tuý đã làm phát sinh nhiều tội phạm khác và là một trong những nguyên nhân làm lan truyền căn bệnh HIV/AIDS, là hiểm hoạ đối với mọi gia đình và xã hội. Chính vì vậy, đối với hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử phạt nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; tỏ ra ăn năn, hối cải nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,19 gam Heroine nên cần áp dụng hình phạt đối với bị cáo ở mức đầu của khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự người phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng để sung vào công quỹ nhà nước. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có mục đích vụ lợi; xét hoàn cảnh gia đình, tính chất mức độ tội phạm do bị cáo thực hiện nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về vật chứng, xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.

[10] Đối với 01 xe mô tô Biển kiểm soát 14Z1 – 268.95, qua điều tra xác định do ông Đoàn Đức Đ đứng tên chủ sở hữu. Năm 2020, ông Đoàn Đức Đ đã bán cho Nguyễn Văn K. Khi phát hiện bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý trong túi quần, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ chiếc xe nêu trên. Xét thấy chiếc xe được bị cáo sử dụng làm phương tiện để đi lại, di chuyển hàng ngày; bị cáo phạm tội không có tính chất vụ lợi, không sử dụng chiếc xe trên để cất giấu ma tuý nên chiếc xe không liên quan trực tiếp tới hành vi phạm tội của bị cáo, cần trả lại cho bị cáo quản lý, sử dụng.

[11] Về những vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn K hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ nên tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ xử lý sau.

[12] Về án phí: Theo quy định của pháp luật bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 14 tháng 3 năm 2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn K.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao bì mẫu vật.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn K 01 xe mô tô Biển kiểm soát 14Z1 – 268.95

(Toàn bộ số vật chứng trên hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện T quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 6 năm 2023 của Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện T).

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ Nhà nước.

Bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ