vanban.org

Bản án 19/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Xuân H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Xuân H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21/02/2023. Giao bị cáo Hồ Xuân H cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh B quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hồ Xuân H - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Xuân H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HS-ST
Ngày 21-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Long Nhiên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Á

Ông Nguyễn Hữu Tố

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 05/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:

Hồ Xuân H, sinh ngày 27/4/2000 tại tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Khu phố V, phường H, thị xã H, tỉnh B; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 12/12, dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Xuân H (sinh năm 1972) và bà Nguyễn Thị T (sinh năm 1979); vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Phan Thị B, sinh năm 1968 (đã chết)

Những người đại diện hợp pháp cho bị hại:

1. Ông Trần N, sinh năm 1972 (có mặt).

2. Chị Trần Thị Hồng S, sinh năm 1992 (có mặt).

3. Chị Trần Thị Ánh N, sinh năm 1993 (có mặt).

4. Anh Trần Anh V, sinh năm 1994 (có mặt).

Cùng địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ Xuân H được Sở giao thông vận tải thành phố Đ cấp giấy phép lái xe hạng A1 vào ngày 20/9/2018, có giá trị không thời hạn. Khoảng 05 giờ ngày 28/10/2022, Hồ Xuân H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 77C1-820.57 từ nhà đến thành phố Đ để làm việc. Khi đi, H điều khiển xe lưu thông theo Quốc lộ 1A, hướng Nam - Bắc. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe đến Km 1129+350, đoạn Quốc lộ 1A thuộc khu phố T 1, phường T, thị xã H, tỉnh B và lưu thông trên làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ phía Đông, tốc độ khoảng 55 - 60 km/h. Lúc này, có ánh đèn xe ngược chiều làm H bị lóa mắt nhưng H không giảm tốc độ và tiếp tục điều khiển xe lưu thông khoảng 05 - 07 mét thì phát hiện phía trước khoảng 03 - 05 mét có bà Phan Thị B (sinh năm 1968, thường trú tại khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh B) đang đứng bên trái xe mô tô biển kiểm soát 77C1-361.61 dựng trên làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ phía Đông của Quốc lộ 1A, đầu xe quay về hướng Tây Bắc. Thấy vậy, H phanh xe, lách tránh nhưng không kịp, bánh trước xe mô tô 77C1-820.57 va chạm vào người bà Phan Thị B và tiếp tục va chạm vào xe mô tô 77C1-361.61 gây ra tai nạn làm bà B bị thương và chết vào lúc 14 giờ cùng ngày.

Ngày 01/11/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Định giám định nguyên nhân chết của bà Phan Thị B theo quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn và kết luận: Bà Phan Thị B chết do trượt liên đốt sống cổ C3-C4, đa chấn thương.

Ngày 24/11/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Hoài Nhơn định giá giá trị tài sản thiệt hại của xe mô tô 77C1-361.61 theo yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn và kết luận: Tổng giá trị tài sản thiệt hại tại thời điểm xảy ra tai nạn là 579.744 đồng.

Dấu vết vụ tai nạn giao thông được mô tả tại biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi và bản ảnh.

Phần dân sự: Bị cáo Hồ Xuân H đã bồi thường cho gia đình bị hại Nguyễn Thị B số tiền 95.000.000 đồng, gia đình bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Bản Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 11/01/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Hồ Xuân H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Xuân H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và không có ý kiến tranh luận với kiểm sát viên. Bị cáo đồng ý bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 50.00.000 đồng theo yêu cầu của gia đình bị hại.

Đại diện hợp pháp cho bị hại Phan Thị B yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm cho gia đình bị hại số tiền 50.000.000 đồng ngoài số tiền đã bồi thường trước 95.000.000 đồng. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo H được hưởng án treo để bị cáo còn đi làm việc.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội và tranh luận, giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hồ Xuân H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hồ Xuân H từ 06 đến 09 tháng tù.

- Về bồi thường thiệt hại: Công nhận sự thỏa thuận của các bên tại phiên tòa, buộc bị cáo Hồ Xuân H phải bồi thường cho gia đình bị hại Phan Thị B số tiền 50.000.000 đồng ngoài số tiền đã bồi thường trước 95.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Tuyên trả cho bị cáo Hồ Xuân H 01 giấy lái xe hạng A1 mang tên Hồ Xuân H, số giấy phép lái xe 480181010324, cấp ngày 20/9/2018.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của bản thân đã sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Hoài Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Tại phiên tòa, bị cáo Hồ Xuân H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 28/10/2022, tại đoạn đường QL1A thuộc khu phố T 1, phường T, thị xã H, tỉnh B, Hồ Xuân H có giấy phép lái xe mô tô hợp lệ điều khiển xe mô tô 77C1-820.57 tham gia giao thông không đúng làn đường quy định, không chú ý quan sát tình trạng mặt đường gây tai nạn với bà Phan Thị B đang đứng trên làn đường dành cho xe thô sơ và người đi bộ. Hậu quả bà Phan Thị B chết, hành vi đó của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 23 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố bị cáo Hồ Xuân H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm và nghiêm trọng không những xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của bà Phan Thị B một cách trái pháp luật mà còn gây mất trật tự an toàn giao thông đường bộ ở địa phương. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo mức án phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo Hồ Xuân Hoan chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã bồi thường cho bị hại 95.000.000 đồng, bị hại đã bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đây các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo mức án dưới mức khởi điểm của khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo an tâm cải tạo để trở thành công dân tốt. Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có việc làm ổn định, đại diện bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mà xử phạt bị cáo hình phạt tù có điều kiện, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

Về bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa đại diện hợp pháp cho bị hại Phan Thị B yêu cầu bị cáo bồi thường cho bị hại các khoản: Chi phí cấp cứu điều trị, tiền xe, khoản mai táng phí và chi phí khác, khoản tổn thất tinh thần với số tiền 145.000.000 đồng, được trừ số tiền bị cáo đã bồi thường trước 95.000.000 đồng, còn phải bồi thường thêm 50.000.000 đồng. Bị cáo Hồ Xuân H đồng ý bồi thường thêm số tiền 50.000.000 đồng mà gia đình bị hại yêu cầu. Hội đồng xét xử xét thấy: Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của hai bên không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Buộc bị cáo Hồ Xuân H phải bồi thường cho bị hại Phan Thị B số tiền 50.000.000 đồng (ngoài số tiền 95.000.000 đồng đã bồi thường trước), số tiền trên do chị Trần Thị Hồng S đại diện nhận.

Về xử lý vật chứng: 01 giấy lái xe hạng A1 mang tên Hồ Xuân H, số giấy phép lái xe 480181010324, cấp ngày 20/9/2018, tuyên trả cho bị cáo Hồ Xuân H.

(Theo Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật tài liệu số 306/QĐ-CQCSĐT ngày 28/10/2022 của Công an thị xã Hoài Nhơn).

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đề nghị áp dụng pháp luật, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, tuy nhiên đề nghị xử phạt tù giam đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của BLTTHS năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Cần buộc bị cáo Hồ Xuân H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự

Căn cứ vào Điều 106; Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều48 Bộluậthìnhsự;các Điều584,585,586,591, 601 Bộluậtdân sự;

Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Xuân H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hồ Xuân H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 21/02/2023.

Giao bị cáo Hồ Xuân H cho Ủy ban nhân dân phường H, thị xã H, tỉnh B quản lý, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Hồ Xuân H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Hồ Xuân H phải bồi thường cho bị hại Phan Thị B số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) (ngoài số tiền đã bồi thường trước 95.000.000 đồng). Số tiền trên do chị Trần Thị Hồng S đại diện nhận.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về xử lý vật chứng: Tuyên trả cho bị cáo Hồ Xuân H 01 giấy lái xe hạng A1 mang tên Hồ Xuân H, số giấy phép lái xe 480181010324, cấp ngày 20/9/2018.

(Theo Quyết định tạm giữ tài sản, đồ vật tài liệu số 306/QĐ-CQCSĐT ngày 28/10/2022 của Công an thị xã Hoài Nhơn).

5. Về án phí:

5.1. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Xuân H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5.2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Hồ Xuân H phải chịu 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ