vanban.org

Bản án 19/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 22/03/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-11-2022. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V - “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19 /2023/HS-ST
Ngày: 22.3.2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Như Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Ngọc Tâm;

2. Bà Quách Thị Yến Linh;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Tiến, Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 14/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn V; sinh năm: 1997, tại tỉnh Tây Ninh. Nơi ĐKHKTT: Ấp LT, xã LN, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú hiện nay: Ấp TH xã TM, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L (đã chết) và bà Đặng Thị T; bị cáo có vợ Phan Thị Ý N; bị cáo chưa có con.

Tiền án; tiền sự: Không có.

Bị tạm giữ từ ngày 28-11-2022 đến ngày 07-12-2022 chuyển sang tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Văn V là người nghiện ma túy. Vào khoảng 13 giờ ngày 28-11-2022, V một mình đi bộ từ nhà trọ Thanh H đến khu vực chợ C cùng thuộc ấp TH, xã TM, huyện D, tỉnh Tây Ninh gặp người đàn ông tên Đức (không rõ họ tên, địa chỉ) mua một đoạn ống nhựa màu trắng chứa ma túy với số tiền 300.000 đồng đem về nhà để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, V đi đến khu vực ấp KT, xã CK, huyện D thì bị Công an huyện Dương Minh Châu kiểm tra, bắt quả tang cùng vật chứng có liên quan.

Quá trình điều tra, Trần Văn V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Kết luận giám định số 1553/KL-KTHS ngày 01-12-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu (kí hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,2652 gam; Khối lượng hoàn lại sau giám định 0,1985 gam.

* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật:

- 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1553 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Hà Minh Lâm, có dấu mộc tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có chứa chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng sau giám định 0,1985 gam (không phẩy một chín tám năm gam).

* Kê biên tài sản: Trần Văn V không có tài sản riêng nên không tiến hành kê biên.

* Quá trình điều tra, Trần Văn V khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông tên Đức chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên chưa làm việc được khi nào làm rõ xử lý sau.

* Tại Bản Cáo trạng số 17/CT-VKSDMC ngày 06 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố Trần Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù,.

Hình phạt bổ sung: miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1553 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Hà Minh Lâm, có dấu mộc tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có chứa chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng sau giám định 0,1985 gam (không phẩy một chín tám năm gam).

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát;

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện: Vào ngày 28-11-2022, tại khu vực ấp KT, xã CK, huyện D, tỉnh Tây Ninh, Trần Văn V đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tên gọi Methamphetamine với khối lượng 0,2652 gam để sử dụng thì bị bắt quả tang.

Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng nhằm để thỏa mãn cơn nghiện, đây cũng là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu ra quyết định áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 07/02/2020. Do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo tính răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không có

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đây là các tính tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản và không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

* Đối với hành vi sử dụng trái pháp chất ma túy của Trần Văn V; Cơ quan Công an Huyện Dương Minh Châu ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền nên không đặt ra giải quyết.

* Quá trình điều tra, Trần Văn V khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông tên Đức chưa xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên chưa làm việc được khi nào làm rõ xử lý sau.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

* Đối với số ma tuý chứa trong 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1553 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Hà Minh Lâm, có dấu mộc tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có chứa chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng sau giám định 0,1985 gam (không phẩy một chín tám năm gam) là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trần Văn V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-11-2022.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 bìa thư đã niêm phong ghi vụ số 1553 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Nguyện và trợ lý giám định Hà Minh Lâm, có dấu mọc tròn đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, bên trong có chứa chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng sau giám định 0,1985 gam (không phẩy một chín tám năm gam).

Vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý.

3. Án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Ðiều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Ðiều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ