- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Quốc M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Quốc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HS-ST Ngày 11/5/2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tuấn Tú.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hường.
2. Ông Nguyễn Xuân Tuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Thị Hanh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh T tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Tú, Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2023/TLST-HS ngày 20/4/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2023/QĐXXST-HS ngày 27/4/2023 đối với bị cáo:
Vƣơng Quốc M, tên gọi khác: Không; sinh ngày 04/8/1974 tại thành phố H, tỉnh H.
Nơi thường trú: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; tạm trú: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 5/12; con ông Vương Ngọc N và bà Nông Thị P (đều đã chết); anh, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là thứ ba; vợ Nông Thị H, sinh năm 1979; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2019.
Tiền án; tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 59/2014/HSST ngày 12/12/2014 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2023 hiện đang bị tam giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ, ngày 12/01/2023, Vương Quốc M, sinh năm 1974; nơi thường trú: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C; tạm trú: Tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C đi bộ từ nhà đến khu vực đền Bách Thần thuộc tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C mục đích tìm mua ma túy sử dụng. Đến nơi M gặp một người đàn ông không quen biết mua được 03 gói Heroine đều có đặc điểm bên ngoài gói bằng nilon màu hồng, tiếp theo là lớp giấy bạc màu vàng, trong cùng chứa chất bột vón cục màu trắng là Heroine với giá 600.000 đồng. Mua được Heroine M vào chỗ vắng người lấy 01 gói Heroine vừa mua ra sử dụng hết một phần bằng cách đốt hít vào cơ thể. Số còn lại M cất giấu vào túi quần bên trái cùng 02 gói Heroine còn lại rồi tiếp tục đi về nhà. Khi về đến tổ dân phố V, thị trấn V, huyện C thì gặp tổ công tác Công an huyện C đang làm nhiệm vụ nghi Minh có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã yêu cầu về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn V, huyện C để làm việc. Quá trình làm việc M tự giác giao nộp 03 gói Heroine có đặc điểm nêu trên, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy hồi 19 giờ 10 phút ngày 12/01/2023, tại Công an huyện C đối với Vương Quốc Mi, kết quả: (+) Dương tính có chất ma túy trong cơ thể.
Tại Kết luận giám định số 169/GĐ-KTHS ngày 17/01/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu vật gửi giám định là chất ma túy (loại Heroine), khối lượng 0,933g (Không phẩy chín ba ba gam).
Cáo trạng số 23/CT-VKSCH ngày 19/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang truy tố Vương Quốc M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh T giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Đề nghị tuyên bố bị cáo Vương Quốc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Vương Quốc M từ 01 năm 07 tháng đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/01/2023.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị, nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy đã thu giữ của Vương Quốc M, được niêm phong có chữ ký xác nhận của Vương Quốc M, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T.
Đối với người đàn ông bán Heroine cho Vương Quốc M quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xem xét.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vương Quốc M, Công an huyện C, tỉnh T đã xử phạt vi phạm hành chính, nên không đề nghị xem xét.
Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Vương Quốc M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Xác định đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát. Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp, phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa cũng như tại Cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 12/01/2023 bị cáo Vương Quốc M đã có hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng là 0,933g (Không phẩy chín ba ba gam), tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm phạm đến các quy định về quản lý đối với các chất gây nghiện của Nhà nước, gây mất ổn định an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 12/12/2014 bị Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh T xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không coi đó là bài học mà tiếp tục vi phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức, bản thân nhận thức được việc tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, làm nghiêm trọng thêm tình trạng sử dụng các chất ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý nên cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mẹ bị cáo là bà Nông Thị P được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm chung; nội dung buộc tội, đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa cho thấy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, do đó căn cứ vào Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án tương xứng với mức độ thực hiện hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời làm gương phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy không vì mục đích vụ lợi, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Số ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Vương Quốc M và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Vương Quốc M, giám định ngày 13/01/2023 là vật chứng cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Vương Quốc M, không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Vương Quốc M, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt hành chính nên không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các Điều 106, 135, 136, 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vương Quốc M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vương Quốc M 01 năm 07 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2023.
- Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt sau các mép dán có chữ ký xác nhận của Vương Quốc M, thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T. Mặt trước ghi tang vật vụ Vương Quốc M, giám định ngày 13/01/2023.
Tình trạng vật chứng như biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản lập ngày 28 tháng 4 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện C.
- Về án phí: Bị cáo Vương Quốc M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Trần Thị Hƣờng - Nguyễn Xuân Tuyến | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tuấn Tú |