vanban.org

Bản án 19/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 18/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Trương Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 12 năm 2022. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Trương Văn C. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Văn C - Phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Ufgbvyh hjbm tfhhhhci,kloiobm.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH TÂN
TỈNH VĨNH LONG
Bản án số: 19/2023/HS-ST
Ngày 18 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH TÂN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hùng

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Thuận

Ông Lê Ngọc Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thanh Điền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hùng Duẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 3 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo:

Trƣơng Văn C, sinh ngày 24/8/1991 tại huyện BT, tỉnh V. Nơi cư trú: Tổ 10, khóm TL, thị trấn TQ, huyện BT, tỉnh V; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn H và bà Tạ Thị N; chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/3/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện BT, tỉnh V ra quyết định đưa đi cai nghiện bắt buộc 18 tháng, đến ngày 09/9/2021 trở về địa phương; Bị bắt tạm giữ ngày 07/12/2022, tạm giam từ ngày 10/12/2022, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trƣơng Thị T, sinh năm 1973. Nơi cư trú: Tổ 01, ấp TK, thị trấn TQ, huyện BT, tỉnh V. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 07/12/2022 Trương Văn C điều khiển xe mô tô biển số 64K1 - 047.39 đến khu vực bến phà cũ thuộc phường TP, thị xã BM, tỉnh V gặp 01 người đàn ông tên D (không rõ họ tên, địa chỉ) hỏi mua 250.000 đồng ma túy loại Heroin thì người đàn ông này đưa cho C 01 bịch nylon và 01 đoạn ống hút bên trong có chất ma túy. C bỏ ma túy vừa mua vào trong bao thuốc lá hiệu “Cửu Long” rồi cất vào túi quần bên trái, sau đó C chạy xe mô tô 64K1 - 047.39 đến cây xăng số 39 thuộc ấp TP, xã TL, huyện BT, tỉnh V để vào nhà vệ sinh sử dụng ma túy thì bị Lực lượng Công an huyện BT, tỉnh V kiểm tra phát hiện C có tàng trữ trái phép chất ma túy trong người nên Công an huyện BT tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong ma túy vào trong bao thư có chữ ký xác nhận của Trương Văn C. Quá trình điều tra xác định Trương Văn C là người nghiện ma túy, hình thức sử dụng ma túy là tiêm chích vào cơ thể, khi bị bắt C khai đó là Heroine, mục đích mua ma túy (Heroine) đem về để tàng trữ và sử dụng cho bản thân, ngoài ra không vì mục đích nào khác.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BT, tỉnh V tiến hành test nhanh chất ma túy trong người Trương Văn C, kết quả cho thấy Nguyễn Văn C dương tính với chất ma túy loại Heroine.

Căn cứ vào Kết luận giám định số: 925KL-KTHS ngày 09/12/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh V kết luận: 01(một) bịch nylon và 01 đoạn ống hút màu trắng được niêm phong trong bao thư thu giữ của Trương Văn C gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng lần lượt là 0,1716 gam và 0,0542 gam.

Xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện BT, tỉnh V ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Trương Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tạm giữ, tạm giam C để điều tra cho đến nay.

Qua quá trình điều tra Trương Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) bịch nylon bên trong có chứa 0,1716 gam ma túy, loại heroine và 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng có đựng 0,0542 gam may túy, loại heroine.

- 01 (một) ống kim tiêm, C dùng để sử dụng ma túy.

- 01 (môt) xe mô tô loại WAVE S, nhãn hiệu HONDA biển số 64K1 - 047.39.

Tại Cáo trạng số: 14/CT-VKSBT, ngày 02/3/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V truy tố Trương Văn C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, sau khi phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm, tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, năng lực trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Trương Văn C và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Trương Văn C từ 01 (một) năm tù đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07/12/2022.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Trương Văn C có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo C.

Về xử lý vật chứng đề nghị: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô loại WAVE S, nhãn hiệu HONDA biển số 64K1 - 047.39 là tài sản của bà Trương Thị T nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BT, tỉnh V trả lại cho bà Trương Thị T xe mô tô biển số 64K1 - 047.39.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bịch nylon bên trong có chứa 0,1716 gam heroine (còn lại sau giám định, khối lượng 0,1350 gam).

- 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng bên trong có chứa 0,0542 gam heroine (mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

- 01 ống kim tiêm, bị cáo C dùng để sử dụng ma túy.

Về vấn đề khác:

Đối với người thanh niên tên D bán ma túy cho bị cáo C không rõ họ tên và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BT không làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Văn C phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo Trương Văn C thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời nói sau cùng của bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về hòa nhập cộng đồng làm người công dân tốt cho xã hội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Trương Thị T trình bày: Xe mô tô loại WAVE S, nhãn hiệu HONDA, biển số 64K1 - 047.39 là tài sản của bà T, bà T không biết bị cáo C mượn xe để đi mua ma túy sử dụng. Xe mô tô biển số 64K1 - 047.39 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BT, tỉnh V trả lại cho bà T nên bà T không có yêu cầu gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện BT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: Vào sáng ngày 07/12/2022, tại khu vực cây xăng số 39 thuộc ấp TP, xã TL, huyện BT, tỉnh V đã phát hiện bắt quả tang bị cáo Trương Văn C đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,2258 gam (Không phẩy hai hai năm tám gam) Heroine để sử dụng.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Bình Tân, tỉnh Vĩnh Long truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Trương Văn C là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Ma túy là một loại độc dược gây nghiện, khi sử dụng nó sẽ làm cho con người bị lệ thuộc và mất đi nhân cách, là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về đạo đức và cũng là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy, nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo đã mua Heroine mục đích để sử dụng, hành vi của bị cáo không những gây thiệt hại đến kinh tế của bản thân, ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn làm gia tăng tệ nạn xã hội. Do vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, bằng việc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo; Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) cần áp dụng cho bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trương Văn C.

Đối với người thanh niên tên D bán ma túy cho bị cáo C không rõ họ tên và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BT không làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng trong vụ án:

Quá trình điều tra xác định xe mô tô loại WAVE S, nhãn hiệu HONDA, biển số 64K1 - 047.39 là tài sản bà Trương Thị T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BT, tỉnh V trả lại cho bà Trương Thị T 01 xe mô tô biển số 64K1

- 047.39 là có căn cứ.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ của bị cáo 01 (một) bịch nylon bên trong có chứa 0,1716 gam heroine (còn lại sau giám định, khối lượng 0,1350 gam) và 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng bên trong có chứa 0,0542 gam heroine (mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định); 01 ống kim tiêm, bị cáo C dùng để sử dụng ma túy cần tịch thu tiêu hủy.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và đúng theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trương Văn C phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trương Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Trương Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 12 năm 2022.

Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Trương Văn C.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện BT trả lại cho bà Trương Thị T 01 xe mô tô loại WAVE S, nhãn hiệu HONDA, biển số 64K1 - 047.39.

Tịch thu tiêu hủy:

- 01 (một) bịch nylon bên trong có chứa 0,1716 gam heroine (còn lại sau giám định, khối lượng 0,1350 gam).

- 01 (một) đoạn ống hút nhựa màu trắng bên trong có chứa 0,0542 gam heroine (mẫu đã sử dụng hết trong quá trình giám định).

- 01 ống kim tiêm, bị cáo Trương Văn C dùng để sử dụng ma túy.

(Các vật chứng hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện BT, tỉnh V theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/3/2023).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Văn C phải nộp số tiền 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ