- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lê Minh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015:
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HS-PT Ngày: 07 - 02 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Phi Kbuôr
Các Thẩm phán: Ông Vũ Văn Tú và Bà Lưu Thị Thu Hường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Loan - Thư ký Toà án nhân dân t nh Đ k L k.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đình Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 02 năm 2023, t i tr s Toà án nhân dân t nh Đ k L k x t x phúc thẩm công khai v án hình sự th lý số: 03/2023/TLPT-HS ngày 05/01/2023 đối với bị cáo Lê Minh T. Do có kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ k L k đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 320/2022/HS-ST ngày 25/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, t nh Đ k L k.
- Bị cáo bị kháng nghị:
Họ và tên: Lê Minh T, sinh năm 1987, t i t nh Đ k L k; nơi cư trú: Đường Đ, phường C, thành phố B, t nh Đ k L k; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tùng L, sinh năm 1960 và con bà Đặng Thị Tuyết L1, sinh năm 1961; có vợ Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1990 (Đã ly hôn) và có 03 con (Không nhớ năm sinh); tiền sự: Không; tiền án: 01.
Tiền án:
+ Bản án số 65/2006/HSST ngày 04, 05/4/2006 của Tòa án nhân dân t nh Đ k L k x ph t 09 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
+ Bản án số 182/2006/HSST ngày 19/9/2006, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột x ph t 06 năm tù về tội “Cướp tài sản” và tổng hợp hình ph t 09 tháng tù của Bản án số 65/2006/HSST ngày 04, 05/4/2006, buộc bị cáo phải chấp hành hình ph t của hai bản án là 06 năm 09 tháng tù. Ngày 05/7/2012, bị cáo chấp hành xong hình ph t tù nhưng chưa được xóa án tích do chưa bồi thường thiệt h i cho anh Đinh Ngọc T1.
Nhân thân: Ngày 30/7/2019, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột ban hành Quyết định số 124/2019/QĐ-TA về việc áp d ng biện pháp x lý vi ph m hành chính đưa vào cơ s cai nghiện b t buộc. Ngày 09/12/2020 chấp hành xong.
Bị cáo bị b t t m giữ, t m giam từ ngày 02/7/2022, hiện bị cáo đang t m giam - Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa, nội dung v án được tóm t t như sau:
Bị cáo Lê Minh T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2019. Do không có việc làm ổn định nên T nảy sinh ý định mua ma túy lo i Cỏ về bán l i kiếm lời. Ngày 08/6/2022, T s d ng điện tho i di động hiệu Realme màu đen g n sim số 0702.793.000 liên l c với nam thanh niên có tài khoản Zalo “Trà xanh” (không rõ nhân thân, lai lịch) thành phố Hồ Chí Minh mua một gói nylon chứa chất thảo mộc màu xanh (hay còn gọi là ma túy Cỏ) với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T mang về nhà địa ch Đường Đ, phường C, thành phố B, t nh Đ k L k, lấy một ít s d ng và phân thành 12 gói nhỏ cất giấu trong phòng ngủ, ai hỏi thì bán. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 02/7/2022, T đang nhà thì có nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) s d ng số điện tho i 0844.069.696 gọi vào số điện tho i của T 0702.793.000 hỏi mua hai gói ma túy Cỏ, T đồng ý bán với giá 150.000 đồng và hẹn gặp nhau t i khu vực đường G, phường T2, thành phố B. T lấy hai gói ma túy Cỏ cất vào túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát 47F9-9008 đến điểm hẹn. Khi T đi đến khu vực ngã tư đường M và G, phường T1, thành phố B thì bị đội Cảnh sát điều tra tội ph m về ma tuý phối hợp với Công an phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện b t quả tang. T tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên phải ra giao nộp hai gói nylon bên trong chứa chất thảo mộc khô màu xanh, T khai nhận là ma túy Cỏ mang đi bán nhưng chưa kịp bán thì bị b t quả tang và được niêm phong theo quy định của pháp luật.
Tiến hành khám x t khẩn cấp chỗ của T t i Đường Đ, phường C, thành phố B, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột thu giữ 10 gói nylon chứa chất thảo mộc, được niêm phong theo quy định của pháp luật.
T i bản kết luận giám định số: 917/KL-KTHS ngày 15/7/2022 của Phân viện khoa học hình sự t i thành phố N kết luận: Mẫu thảo mộc khô màu xanh (đã c t nhỏ) bên trong hai gói nylon và trong 10 gói nylon g i giám định không tìm thấy chất ma túy có trong danh m c; tổng khối lượng mẫu thảo mộc khô như sau: Trong hai gói nylon là: 1,67 gam; trong 10 gói nylon là 2,97 gam. Tổng cộng là 4,64g.
Mẫu vật còn l i sau giám định và vỏ bao gói được hoàn l i trong gói niêm phong số: 917/KL-KTHS giao nhận l i đối tượng giám định: 0,73 gam phần còn l i của mẫu thảo mộc khô màu xanh (đã c t nhỏ) trong hai gói nylon; 1,76 gam phần còn l i của mẫu thảo mộc khô màu xanh (đã c t nhỏ) trong mười gói nylon.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 320/2022/HS-ST ngày 25/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Minh T ph m tội “Mua bán trái ph p chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
X ph t: Bị cáo Lê Minh T 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về x lý vật chứng và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/12/2022, Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ k L k kháng nghị một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 320/2022/HS-ST ngày 25/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về áp d ng pháp luật và mức hình ph t đối với bị cáo Lê Minh T, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm x t x v án theo hướng áp d ng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và giảm nhẹ hình ph t tù cho bị cáo Lê Minh T.
Quá trình tranh luận t i phiên toà phúc thẩm, đ i diện Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ k L k xác định Tòa án cấp sơ thẩm xét x bị cáo Lê Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm áp d ng tình tiết định khung “Tái ph m nguy hiểm” theo quy định t i điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là không đúng. Đề nghị Hội đồng xét x căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố t ng hình sự, chấp nhận kháng nghị của VKSND t nh Đ k L k, s a một phần bản án hình sự sơ thẩm; áp d ng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự; x ph t bị cáo Lê Minh T từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái ph p chất ma túy” và giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì, ch đề nghị Hội đồng xét x xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ v án, đã được tranh t ng t i phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
Xét lời khai nhận của bị cáo t i phiên tòa phúc thẩm là phù hợp với lời khai của bị cáo t i cơ quan điều tra, t i phiên tòa sơ thẩm; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ v án. Như vậy, đã có đủ cơ s kết luận: Lê Minh T là đối tượng đang có tiền án thuộc trường hợp tái ph m chưa được xóa án tích. Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 02 tháng 7 năm 2022, t i ngã tư đường M và G, phường T2, thành phố B, t nh Đ k L k, Đội Cảnh sát điều tra tội ph m về ma túy Công an thành phố Buôn Ma Thuột phối hợp với Công an phường Tân Thành, thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện b t quả tang Lê Minh T có hành vi đang đi bán 1,67 gam ma túy d ng Cỏ để kiếm lời. Tiến hành khám xét chỗ của Tú t i Đường Đ, phường C, thành phố B thì thu giữ thêm 2,97 gam ma túy d ng Cỏ cất giấu với m c đích cũng bán kiếm lời, tổng cộng là 4,64g.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét x bị cáo Lê Minh T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định t i Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ k L k, thì thấy:
Việc Toà án cấp sơ thẩm áp d ng tình tiết định khung hình ph t “Tái ph m nguy hiểm” quy định t i điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là không đúng với quy định của luật, b i lẽ: Ngày 12/02/2005, bị cáo Lê Minh T thực hiện hành vi ph m tội “Gây rối trật tự công cộng”, sau khi bị kh i tố v án, điều tra và trong thời gian t i ngo i chờ xét x về hành vi “Gây rối trật tự công cộng” thì đến ngày 03/3/2006 thì T tiếp t c thực hiện hành vi ph m tội “Cướp tài sản” (Ngày 04 và 05/4/2006, Toà án nhân dân t nh Đ k L k x v án về tội “Gây rối trật tự công cộng” và ngày 19/9/2006 Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét x v án “Cướp tài sản”). Như vậy, vào thời điểm T ph m tội “Cướp tài sản”, bị cáo chưa bị kết án nên theo quy định t i Điều 49 Bộ luật hình sự 1999 thì hành vi ph m tội của T là không thuộc trường hợp “Tái ph m”.
Đến ngày 05/7/2012, bị cáo T đã chấp hành xong hình ph t tù theo Bản án số 182/2006/HSST của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, nhưng bị cáo chưa bồi thường khoản tiền 200.000 đồng cho người bị h i. Do đó, căn cứ Điều 70 Bộ luật hình sự và tiểu m c 7 m c I Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo chưa được xoá án tích do chưa chấp hành xong các quyết định khác của bản án. Nên khi bị cáo T thực hiện hành vi ph m tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” vào ngày 02/7/2022 là ch thuộc trường hợp “Tái ph m” chứ không phải “Tái ph m nguy hiểm” như cấp sơ thẩm đã truy tố và xét x .
Mặt khác, theo quy định t i khoản 2 Điều 53 Bộ luật hình sự thì hành vi của bị cáo T cũng chưa thoả mãn theo quy định t i điều luật này, vì “Tái ph m nguy hiểm” là trường hợp “Đã bị kết án về tội ph m rất nghiêm trọng, tội ph m đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà l i thực hiện hành vi ph m tội về tội ph m rất nghiêm trọng, tội ph m đặc biệt nghiêm trọng do cố ý”. Mặc dù hành vi ph m tội “Cướp tài sản” của bị cáo T đã được xét x t i Bản án số 182/2006/HSST của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột là hành vi ph m tội rất nghiêm trọng nhưng hành vi ph m tội “Mua bán trái ph p chất ma tuý” vào ngày 02/7/2022 của bị cáo T ch là hành vi ph m tội nghiêm trọng có mức hình ph t đến 07 năm tù.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét x chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ k L k về việc áp d ng pháp luật và giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo Lê Minh T.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố t ng hình sự năm 2015:
- Chấp nhận Quyết định kháng nghị số 06/QĐ-VKS-P7 ngày 23/12/2022 của Viện kiểm sát nhân dân t nh Đ k L k.
- S a Bản án hình sự sơ thẩm số 320/2022/HS-ST ngày 25/11/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về phần áp d ng pháp luật và hình ph t.
[2] Về Điều luật áp d ng và mức hình ph t:
Áp d ng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
X ph t bị cáo Lê Minh T 04 (Bốn) năm tù về tội “Mua bán trái ph p chất ma tuý”, thời h n chấp hành hình ph t tù được tính từ ngày b t t m giữ, t m giam ngày 02/7/2022.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Minh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời h n kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Cấp cao t i Đà Nẵng; - VKSND t nh Đ(02 bản); - Phòng HSNV Công an t nh Đ; - Văn phòng CQCSĐT Công an t nh Đ; - Tr i t m giam Công an t nh Đ; - S Tư pháp t nh Đ; - TAND thành phố B; - VKSND thành phố B; - Công an thành phố B; - Chi c c THADS thành phố B; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Y Phi Kbuôr |