vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Anh H đối với anh Nguyễn Hữu T. Chị Hoàng Anh H được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T; Chị H và anh T không còn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TÂY NINH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09-5-2023
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁNNHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂY NINH, TỈNH TÂY NINH.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Tấn Phát;

2. Ông Trần Ngọc Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Nhiên - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 283/2022/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2022 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Anh H, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số nhà 07/11A đường V, khu phố E, phường A, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Bị đơn: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1977; Địa chỉ: Số nhà 07/11A đường V, khu phố E, phường A, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo nội dung đơn khởi kiện ly hôn ngày 03-11-2022, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hoàng Anh H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh T tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 1997, có đăng ký kết hôn, chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì anh chị ly hôn đã được Tòa án xét xử cho vợ chồng ly hôn. Năm 2016, anh chị thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên chung sống với nhau và đăng ký kết hôn lần 2 vào ngày 20 tháng 4 năm 2016 tại UBND Phường A, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung tại nhà số 07/11A đường V, khu phố E, phường A, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do cả hai bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, anh T đi làm về say sỉn và có hành vi lăng mạ, sỉ nhục chị H. Chị H bỏ đi và anh chị ly thân nhau từ tháng 09 năm 2022. Trong thời gian anh chị ly thân đã hòa giải về tình cảm vợ chồng nhưng không thành, chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu được ly hôn với anh T.

- Về con chung: Có 03 con chung: Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 05-02-1998; Nguyễn Hữu Được A, sinh ngày 03-7-2000; Nguyễn Hữu Được E, sinh ngày 03-7-2000. Hiện các con đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Chị H khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Chị H cam đoan không có nợ chung và không ai nợ lại vợ chồng.

Ngoài ra, chị H không còn yêu cầu gì khác.

* Đối với bị đơn anh Nguyễn Hữu T:

Tòa án đã tống đạt thông báo, niêm yết đầy đủ các thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh T vắng mặt không có lý do nên không ghi được ý kiến trình bày. Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51; 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Hoàng Anh H được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T; về con chung: Có 03 con chung: Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 05-02-1998; Nguyễn Hữu Được A, sinh ngày 03-7-2000; Nguyễn Hữu Được E, sinh ngày 03-7-2000. Hiện các con đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết; về tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết;

Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Chị Hoàng Anh H có đơn có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, anh Nguyễn Hữu T vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến đầy đủ thủ tục tố tụng để đảm bảo cho việc xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Hoàng Anh H và anh Nguyễn Hữu T tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân vào năm 2011, đăng ký kết hôn vào ngày 20 tháng 4 năm 2016 tại UBND Phường A, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H trình bày sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, anh T luôn say sỉn và có những lời lẽ xúc phạm chị, cả hai không có tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng ly thân từ tháng 09 năm 2022 cho đến nay. Từ đó, chị H thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu được ly hôn với anh T. Ngược lại anh T đã được Tòa án tống đạt, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có văn bản trình bày ý kiến về quan hệ hôn nhân.

Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận ý kiến trình bày của chị H và xác định giữa anh T và chị H không còn tình cảm vợ chồng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H về việc xin ly hôn.

Về con chung: Có 03 con chung: Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 05-02-1998; Nguyễn Hữu Được A, sinh ngày 03-7-2000; Nguyễn Hữu Được E, sinh ngày 03-7-2000. Hiện các con đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị H trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với tình tiết, nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Chị Hoàng Anh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các vào các Điều 51và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp và quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hoàng Anh H đối với anh Nguyễn Hữu T. Chị Hoàng Anh H được ly hôn với anh Nguyễn Hữu T; Chị H và anh T không còn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

2. Về con chung:

Có 03 con chung: Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 05-02-1998; Nguyễn Hữu Được A, sinh ngày 03-7-2000; Nguyễn Hữu Được E, sinh ngày 03-7-2000. Các con đã thành niên, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Chị Hoàng Anh H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; nhưng được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0001498, ngày 03-11-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh. Chị H đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.

5. Các bên đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi có trụ sở.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ