- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "V/v: Ly hôn, con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị Huyền được ly hôn anh Hà Quang Tin.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19 /2023/HNGĐ-ST Ngày: 28/6/2023 V/v: Ly hôn, con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN - TỈNH PHÚ THỌ.
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Vĩnh
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Trình
2. Ông Nguyễn Gia Thắng
- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023 về việc: “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Huyền, sinh năm 1989 ĐKHKTT: Xóm Cáp, xã Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Bị đơn: Anh Hà Quang Tin, sinh năm 1985 ĐKHKTT: Xóm Cáp, xã Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.
Người bảo vệ quyền và lợi ích phợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy, Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ
Người bảo vệ quyền và lợi ích phợp pháp cho bị đơn: Bà Đinh Thị Hạnh, Trợ giúp viên thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Thọ (Chị Huyền có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Tin, bà Thủy, bà Hạnh đều có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn - chị Đinh Thị Huyền trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Huyền kết hôn với anh Hà Quang Tin ngày 25/8/2011 hai bên được tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Về tình cảm, những năm đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2020 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, anh Tin không tin tưởng vợ nên hay ghen tuông vô cớ, thường sảy ra đánh cãi chửi nhau. Vợ chồng đã cố gắng khắc phục, hai bên gia đình khuyên giải nhiều lần nhưng không thành. Vợ chồng đã sống ly thân từ cuối tháng 12 năm 2020 đến nay, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị huyền xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Tin để giải phóng cho nhau, sớm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Chị Huyền xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Hà Thị Huyền Trang, sinh ngày 20/10/2011 và cháu Hà Quang Sức, sinh ngày 17/01/2013. Ly hôn, chị Huyền yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trang và tự nguyện giao cháu Sức cho anh Tin trực tiếp nuôi dưỡng. Hiện tại chị đang đi làm công ty ở Hà Nội, thu nhập bình quân từ 7.000.000 đồng - 8.000.000 đồng/ tháng, đủ điều kiện để nuôi dưỡng 01 con chung đến khi thành niên. Nếu anh Tin xin nuôi cả hai con chung thì chị cũng đồng ý vì hiện tại chị đang đi làm ăn xa nhà, chỗ ở chưa ổn định, chị Huyền sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị Huyền xác định vợ chồng tự chia nhau, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn anh Hà Quang Tin trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận về thời gian và điều kiện kết hôn như chị Đinh Thị Huyền trình bày là đúng. Sau khi kết hôn, thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đến khoảng tháng 9/2022 chị Huyền đi làm phụ hồ, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Đến cuối năm 2022 anh phát hiện chị Huyền có mối quan hệ ngoài luồng với người đàn ông khác, anh Tin đã khuyên nhủ nhiều lần để giữ gìn hạnh phúc gia đình và có đến nhà người đàn ông đó để đón chị Huyền nhưng chị Huyền không về. Anh chưa từng đánh đập hay chửi mắng chị Huyền. Nay anh Tin xét thấy tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn với chị Huyền và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái.
- Về con chung: Anh Tin xác định vợ chồng có 02 con chung là cháu Hà Thị Huyền Trang sinh ngày 20/10/2011 và cháu Hà Quang Sức sinh ngày 17/01/2013. Quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên Tòa, anh Tin yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu chị Huyền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh số tiền là 3.000.000 đồng/ tháng/ 2 cháu.
Khi bố mẹ ly hôn, nguyện vọng của cháu Hà Thị Huyền Trang và cháu Hà Quang Sức đều muốn được ở cùng bố.
- Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Anh Tin xác định sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác, không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tại biên bản xác minh ngày 16/5/2023, ông trưởng khu hành chính cung cấp thông tin như sau:
Anh Tin và chị Huyền đều có hộ khẩu thường trú tại khu Cáp, xã Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống những năm trước anh Tin thường đi làm thợ xây và có những mối quan hệ không chuẩn mực ở tỉnh Hòa Bình và cũng đã đưa người con gái khác về nhà nên anh Tin và chị Huyền đã cãi nhau, cũng đã có những lần chị Huyền bỏ về nhà mẹ đẻ ở xã Khả Cửu, sau đó anh Tin lại đi đón về. Cách đây khoảng gần 01 năm nghe thông tin chị Huyền đi làm ăn thỉnh thoảng mới về còn anh Tin vẫn lao động tại địa phương.
Về con chung: Anh Tin và chị Huyền có 02 con chung là cháu Hà Thị Huyền Trang sinh ngày 20/10/2011 và cháu Hà Quang Sức sinh ngày 17/01/2013. Hiện đang ở cùng anh Tin, chủ yếu hai cháu ở cùng bố mẹ đẻ anh Tin vì vợ chồng anh Tin chị Huyền đều đi làm ăn xa nhà.
Về điều kiện nuôi con: Anh Tin và chị Huyền đều là lao động tự do, mức thu nhập bình quân ở địa phương là 3.000.000 – 4.000.000 đồng/ tháng. Vợ chồng anh Tin chị Huyền có một ngôi nhà bán kiên cố, có diện tích khoảng 40m², làm trên đất của bố mẹ đẻ anh Tin. Ngoài ra không có tài sản gì đáng giá.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy đã phân tích đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và xác định tình cảm vợ chồng chị Huyền, anh Tin không còn, bà Thủy nhất trí như ý kiến của nguyên đơn, đề nghị HĐXX cho chị Đinh Thị Huyền được ly hôn anh Hà Quang Tin. Giao cho anh Hà Quang Tin tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Hà Thị Huyền Trang, sinh ngày 20/10/2011 và cháu Hà Quang Sức, sinh ngày 17/01/2013, đến khi các con chung thành niên, chị Huyền có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Tin theo quy định của pháp luật. Miễn toàn bộ án phí sơ thẩm cho chị Đinh Thị Huyền.
Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Bà Đinh Thị Hạnh đã phân tích đánh giá toàn bộ nội dung vụ án, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và xác định tình cảm vợ chồng chị Huyền, anh Tin còn có thể khắc phục được, bà Hạnh đề nghị HĐXX cho anh Tin cơ hội để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng. Không chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị Huyền xin ly hôn anh Hà Quang Tin. Trường hợp HĐXX cho chị Huyền ly hôn anh Tin thì Giao cho anh Hà Quang Tin tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Hà Thị Huyền Trang, sinh ngày 20/10/2011 và cháu Hà Quang Sức, sinh ngày 17/01/2013, đến khi các con chung thành niên, chị Huyền có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Tin là 3.000.000đ/1 tháng cho cả 02 cháu.
* Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:
Về việc tuân theo pháp luật: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật, không có vi phạm gì. Các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huyền. Xử cho chị Đinh Thị Huyền được ly hôn anh Hà Quang Tin.
Về con chung: Giao cho anh Hà Quang Tin tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Hà Thị Huyền Trang, sinh ngày 20/10/2011 và cháu Hà Quang Sức, sinh ngày 17/01/2013, đến khi các con chung thành niên lao động tự túc được, chị Huyền có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung hàng tháng cho anh Tin mỗi tháng là 3.000.000đ cho cả hai cháu, mỗi cháu là 1.500.000đ/1 tháng kể từ tháng 7/2023 đến khi các cháu thành niên. Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
Về án phí và quyền kháng cáo: Miễn toàn bộ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con cho chị Đinh Thị Huyền. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đinh Thị Huyền khởi kiện yêu cầu Tòa án cho ly hôn anh Hà Quang Tin, đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Huyền và anh Tin đều có nơi ĐKNKTT hiện nay tại xã Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn vì vậy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc vắng mặt nguyên đơn: Ngày 19/6/2023 chị Huyền có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa Kiểm sát viên nhất trí xét xử vắng mặt chị Huyền, đề nghị HĐXX tiếp tục xét xử. Không ai có ý kiến gì về việc vắng mặt của nguyên đơn nên HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ Luật Tố tung Dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đinh Thị Huyền và anh Hà Quang Tin kết hôn ngày 25/8/2011, hai bên được tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thượng Cửu, huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Về tình cảm vợ chồng:
Chị Huyền, anh Tin đều thừa nhận vợ chồng chung sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Theo chị Huyền nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, vợ chồng không tin tưởng lẫn nhau, do kinh tế gia đình khó khăn nên chị Huyền phải đi làm xa nhà, anh Tin không tin tưởng nên hay ghen tuông vô cớ, vợ chồng thường cãi vã sung đột, anh chị đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Theo anh Tin, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh phát hiện chị Huyền có mối quan hệ ngoài luồng với người đàn ông khác, anh Tin đã khuyên nhủ nhiều lần để giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng chị Huyền không về. Anh khẳng định chưa từng đánh đập hay chửi mắng vợ. Nay chị Huyền yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Tin, anh Tin cho rằng tình cảm vợ chồng vẫn còn nên không đồng ý ly hôn với chị Huyền và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy con cái.
Ngày 16/5/2023 Tòa án Thanh Sơn đã tiến hành xác minh tại khu Cáp xã Thượng Cửu cung cấp, quá trình chung sống những năm trước anh Tin thường đi làm thợ xây và có những mối quan hệ không chuẩn mực ở tỉnh Hòa Bình nên anh Tin và chị Huyền đã cãi vã, sung đột nhiều lần, cũng đã có những lần chị Huyền bỏ về nhà mẹ đẻ ở xã Khả Cửu, sau đó anh Tin lại đi đón về. Cách đây khoảng gần 01 năm nghe thông tin chị Huyền đi làm ăn thỉnh thoảng mới về còn anh Tin vẫn lao động tại địa phương: HĐXX thấy rằng: Mâu thuẫn chính của vợ chồng chị Huyền và anh Tin xuất phát từ việc tình cảm vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong cuộc sống, do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, vợ chồng đi làm xa nhau, không tin tưởng vào tình cảm của nhau từ đó dẫn tới thường xuyên cãi vã, bất đồng, mâu thuẫn vợ chồng càng trở nên căng thẳng trầm trọng, chị Huyền và anh Tin đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị Huyền xác định không còn tình cảm với anh Tin và cương quyết xin được ly hôn anh Tin . Anh Tin không nhất trí ly hôn vì xác định vẫn còn tình cảm với chị Huyền và cho rằng chị Huyền có quan hệ bất chính với người đàn ông khác nên xin ly hôn anh, tuy nhiên bản thân anh Tin lại không đưa ra được căn cứ chứng minh chị Huyền có mối quan hệ bất chính với người đàn ông khác, không có biện pháp để khắc phục mâu thuẫn vợ chồng, không có những hành động tích cực, hữu hiệu để hàn gắn tình cảm vợ chồng, hơn nữa anh Tin cũng đã có những mối quan hệ không trong sáng trước đó nên mới phát sinh mâu thuẫn vợ chồng.
Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy rằng: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Huyền và anh Tin đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, thực tế hôn nhân giữa chị Huyền và anh Tin đã không còn tồn tại một thời gian, vì vậy cần xử cho chị Huyền được ly hôn anh Tin là phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Chị Đinh Thị Huyền và anh Hà Quang Tin xác định anh chị có 02 con chung là cháu Hà Thị Huyền Trang, sinh ngày 20/10/2011 và cháu Hà Quang Sức, sinh ngày 17/01/2013. Hiện các cháu đang ở với anh Tin và ông bà nội. Khi ly hôn chị Huyền đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Trang và tự nguyện giao cháu Sức cho anh Tin trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Huyền không yêu cầu anh Tin cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Nếu anh Tin đề nghị nuôi cả hai con chung thì chị cũng đồng ý do hiện tại chị đang đi làm ăn xa, chỗ ở chưa ổn định, chị Huyền sẽ có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Nếu phải ly hôn anh Tin yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và yêu cầu chị Huyền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh số tiền là 3.000.000 đồng/ 1 tháng/ 2 cháu. Xét yêu cầu về việc nuôi con của cả hai bên là chính đáng. Về điều kiện nuôi con của chị Huyền và anh Tin thấy rằng: Hiện nay cả hai anh chị đều là lao động tự do, theo chị Huyền hiện tại chị đang đi làm công ty ở Hà Nội, thu nhập bình quân từ 7.000.000 đồng - 8.000.000 đồng/ tháng nhưng chỗ ở chưa có phải đi ở thuê trọ, chị Huyền cũng có nguyện vọng nếu anh Tin xin nuôi cả hai cháu chị cũng đồng ý và chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con cho anh Tin. Theo xác minh tại địa phương nơi chị Huyền và anh Tin cư trú thì mức thu nhập bình quân ở địa phương là 3.000.000 – 4.000.000 đồng/ tháng. Như vậy chị Huyền và anh Tin đều có điều kiện khả năng để nuôi dạy con chung như nhau. Anh Tin lao động tại địa phương, anh, chị có ngôi nhà làm trên đất của bố mẹ anh Tin nên anh Tin có điều kiện chăm sóc các con hơn, Khi bố mẹ ly hôn nguyện vọng của cháu Hà Thị Huyền Trang và cháu Hà Quang Sức đều xin được ở với bố. Để đảm bảo quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc của các cháu và để các cháu được phát triển một cách tốt nhất cần giao cho anh Tin chăm sóc, nuôi dưỡng cả 02 cháu và buộc chị Huyền phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hàng tháng cho anh Tin là phù hợp với Điều 81; 82 – Luật hôn nhân và gia đình.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp và tư trang riêng: Chị Đinh Thị Huyền và anh Hà Quang Tin đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Huyền phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên chị Huyền là người dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - Xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí. Do vậy cần miễn nộp tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con cho chị Huyền, chị Huyền đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí, nay cần trả lại cho chị Huyền; các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đinh Thị Huyền được ly hôn anh Hà Quang Tin.
2. Về con chung: Giao cho anh Hà Quang Tin tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung là cháu Hà Thị Huyền Trang, sinh ngày 20/10/2011 và cháu Hà Quang Sức, sinh ngày 17/01/2013 đến khi các con chung thành niên. Chị Đinh Thị Huyền phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Trang và cháu Sức cho anh Tin mỗi tháng là 3.000.000đ (Ba triệu đồng) cho cả 02 cháu, mỗi cháu là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) một tháng, kể từ tháng 6/2023 đến khi các cháu thành niên. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Miễn toàn bộ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con cho chị Đinh Thị Huyền. Trả lại cho chị Đinh Thị Huyền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số AA/2020/0007116 ngày 21/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Tin được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Huyền vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 - Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - - Các đương sự; - - VKS huyện, tỉnh; - - Cơ quan THADS huyện; - - UBND xã Thượng Cửu; - - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Khắc Vĩnh |