vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H T S được ly hôn với anh V V B. Về con chung: Giao cháu V T L C, sinh ngày 09/5/2017 cho anh V V B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị S được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "19 S + B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG THỔ
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST
Ngày 05 tháng 7 năm 2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Triệu Trung Tá.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chiên, ông Đèo Văn Vĩnh.

- Thư ký phiên toà: Bà Lù Thị Xuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đồng Xuân Tím - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 36/2023/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 02 năm 2023, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 23 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị H T S, sinh năm: 19...

Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Anh V V B, sinh năm: 19...

Địa chỉ: Bản A, xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị H T S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị S và chồng là anh B được hai bên gia đình tổ chức đám cưới vào năm 2016, có đăng ký kết hôn với nhau ngày 21/3/2017, có giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu cấp, anh chị kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn; Nguyên nhân là do anh B thường chơi bời cờ bạc, anh B còn thường xuyên đánh đập chị S, không quan tâm đến vợ con. Cả hai sống ly thân từ năm 2019 đến nay, thời gian ly thân cả hai không ai quan tâm ai. Chị S không còn tình cảm với anh B nữa nên chị quyết định ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị S và anh B có 01 con chung, tên là V T L C, sinh ngày 09/5/2017. Hiện tại cháu C đang ở cùng anh B và ông bà nội. Sau khi ly hôn chị S nhất trí cho anh B là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu C cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và chị S không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị S và anh B không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng đối với bị đơn theo đúng quy định của pháp luật và triệu tập bị đơn nhưng bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không cung cấp tài liệu, chứng cứ và không có yêu cầu gì.

Kết quả xác minh của Tòa án tại Công an xã B, xác minh đối với trưởng bản A, xác minh đối với bố mẹ của anh B xác định: Vợ chồng chị S và anh B chung sống với nhau từ năm 2016, sau khi kết hôn thì anh chị chung sống cùng bố mẹ anh B. Thời gian chung sống giữa anh có xảy ra mâu thuẫn với nhau hay không thì không rõ vì không thấy anh chị to tiếng với nhau, cả hai vợ chồng không còn chung sống với nhau từ năm 2019 cho đến nay, không ai biết lý do tại sao anh chị ly thân nhau. Anh B hiện nay đang đi làm ăn xa, không rõ làm tại đâu, không có mặt tại địa phương, anh B cũng không khai báo tạm vắng tại địa phương, anh B vẫn liên lạc về với gia đình, thỉnh thoảng về thăm gia đình, gửi tiền về cho ông bà nuôi con, nhưng không ai biết anh B đang đi làm việc tại đâu. Việc chị S muốn ly hôn với anh B thì anh B và gia đình đều không có ý kiến gì, anh B không về để giải quyết ly hôn với chị S. Anh B không có yêu cầu phản tố.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc giải quyết, xét xử sơ thẩm vụ án.

Trong quá trình giải quyết, xét xử, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, các Điều 147, 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 54, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận đơn khởi kiện của chị H T S, xử: Về quan hệ hôn nhân: Chị H T S được ly hôn với anh V V B. Về con chung: Giao cháu V T L C cho anh V V B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nợ chung do đương sự không yêu cầu giải quyết, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào diễn biến phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị H T S có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa chị và anh V V B. Tại thời điểm chị S gửi đơn đến Tòa án xin ly hôn thì chị S không xác định nơi ở của anh B ở đâu do anh B cố tình giấu địa chỉ, không cho ai biết địa chỉ cụ thể của anh ở đâu. Chị S chỉ xác định được nơi cư trú cuối cùng của anh B là tại bản A, xã B, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Do vậy đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không có yêu cầu phản tố nên vụ án được xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị H T S và anh Vg V B là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị S và anh B không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau. Chị S và anh B sống ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay, không còn yêu thương nhau, không có sự quan tâm, chia sẻ, chăm sóc cho nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa hai anh chị đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị S, giải quyết cho chị H T S được ly hôn với anh V V B theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị S và anh B có 01 con chung, tên là V T L C, sinh ngày 09/5/2017, hiện tại cháu đang ở cùng anh B và bố mẹ của anh B. Theo nội dung xác minh tại gia đình anh B thì gia đình đều có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu và cam đoan sẽ nuôi dưỡng cháu thật tốt. Hiện cháu được anh B và gia đình chăm sóc giáo dục tốt. Xét về điều kiện, hoàn cảnh, để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu V T L C cho anh V V B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi và có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

Về tài sản: Chị S và anh B không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ tham gia phiên tòa về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật do là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 40, các Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Chị H T S được ly hôn với anh V V B.

Về con chung: Giao cháu V T L C, sinh ngày 09/5/2017 cho anh V V B trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Chị S được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản: Chị H T S và anh V V B không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị H T S được miễn án phí giải quyết vụ án dân sự theo quy định của pháp luật.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ