- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Quàng Thị H ly hôn với Lò Văn T"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 19/2023/HNGD-ST Ngày 22 tháng 6 năm 2023 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG ẢNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Nguyễn Thị Vân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Vương Đình Hoàng
2. Ông: Lù Văn Hùng
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng tham gia phiên tòa: Ông: Vũ Trí Giáp – Kiểm sát viên
Ngày 22 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 41/2023/TLST-HN&GĐ ngày 29 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 06 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Quàng Thị H, sinh năm 1988.
Nơi cư trú: Bản X, xã NT, thành phố ĐBP, tỉnh Điện Biên. (Có mặt).
Bị đơn: Anh Lò Văn T, sinh năm 1980.
Nơi cư trú: Bản HS, xã ẲC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 23/3/2023 và bản tự khai của chị Quàng Thị H ngày 20/4/2023 nguyên đơn chị Quàng Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Tôi và anh Lò Văn T sống chung từ năm 2005. Đến ngày 02/3/2009 đăng ký kết hôn tại UBND xã ẲC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Trước khi lấy nhau hai bên tự tìm hiểu, tự nguyện yêu nhau, quá trình tìm hiểu không có sự ép buộc và tác động bên ngoài. Sau khi cưới tôi và anh Lò Văn T về chung sống tại bản HS, xã ẲC, huyện MA hạnh phúc một thời gian. Sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Lò Văn T hay đi uống rượu với bạn bè, thường xuyên xúc phạm tôi. Mặt khác anh Lò Văn T còn nghiện ma tuý từ năm 2017. Từ tháng 7 năm 2020 tôi đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống tại bản X, xã NT, thành phố ĐBP, tôi và anh Lò Văn T ly thân từ đó đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, tôi đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Lò Văn T.
- Về con chung: Trong quá trình chung sống tôi và anh Lò Văn T có 02 người con chung là cháu Lò Văn H, sinh ngày 16/01/2010 và cháu Lò Văn T1, sinh ngày 05/3/2006. Nguyện vọng của tôi sau khi ly hôn là tôi được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 cháu cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, tài sản riêng: Tôi và anh Lò Văn T không có.
- Về nợ chung, nợ phải trả, nợ thu về: Tôi và anh Lò Văn T không có.
* Bị đơn: Anh Lò Văn T mặc dù được Tòa án triệu tập nhiều lần và đúng quy định của pháp luật nhưng anh Lò Văn T vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì.
* Trong quá trình giải quyết vụ án:
- Tòa án đã tiến hành lấy ý kiến của cháu Lò Văn H và cháu Lò Văn T1 nguyện vọng của các cháu là muốn được ở với mẹ.
- Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng chị Quàng Thị H và anh Lò Văn T tại bản HS, xã ẲC, huyện MA, tỉnh Điện Biên; Xác minh nơi cư trú của anh Lò Văn T; Xác minh điều kiện kinh tế của chị Quàng Thị H tại bản X, xã NT, thành phố ĐBP.
* Quan điểm của đại diện VKSND huyện Mường Ảng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách người tham gia tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, tống đạt các văn bản tố tụng.
Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, thủ tục phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc chấp hành của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về hôn nhân: Tuyên bố chị Quàng Thị H được ly hôn anh Lò Văn T.
- Con chung: Giao 02 cháu Lò Văn H, sinh ngày 16/01/2010 và cháu Lò Văn T1, sinh ngày 05/3/2006 cho chị Quàng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Về cấp dưỡng nuôi con chị Quàng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tài sản chung, nợ phải trả, nợ lấy về: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chị Quàng Thị H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện VKSND huyện Mường Ảng. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Đây là vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Ngày 29/3/2023, Tòa án nhân dân huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên thụ lý vụ án về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Tòa án ra Thông báo thụ lý vụ án tiến hành tống đạt cho bị đơn là anh Lò Văn T, nhưng không thực hiện được việc tống đạt trực tiếp cho anh Hặc, Tòa án đã tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật. Hết thời hạn 15 ngày Bị đơn không có ý kiến gì.
Tòa án ra thông báo về Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần 1, đã tiến hành tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn không có mặt tại phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và tại buổi hòa giải ngày 11/5/2023 chị Quàng Thị H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được.
Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử, tống đạt Quyết định theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa ngày 06/6/2023, bị đơn là anh Lò Văn T vắng mặt không có lý do lần thứ nhất, căn cứ khoản 1 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa và ấn định thời gian xét xử lại vào ngày 22/6/2023.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn là chị Quàng Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu của mình như đơn khởi kiện; Bị đơn là anh Lò Văn T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Lò Văn T.
Nội dung vụ án:
* Về hôn nhân: Theo đơn xin ly hôn đề ngày 23/3/2023 và bản tự khai của chị Quàng Thị H ngày 20/4/2023 và các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử thấy: Chị Quàng Thị H và anh Lò Văn T sống chung từ năm 2005. Đến ngày 02/3/2009 đăng ký kết hôn tại UBND xã ẲC, huyện MA, tỉnh Điện Biên. Thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, sau đó anh chị phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, anh Lò Văn T hay đi uống rượu với bạn bè, thường xuyên xúc phạm chị. Mặt khác anh Lò Văn T còn nghiện ma tuý từ năm 2017. Từ tháng 7 năm 2020 chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống tại bản X, xã NT, thành phố ĐBP, nên chị Quàng Thị H và anh Lò Văn T đã ly thân và không liên lạc hay quan tâm đến nhau. Xét thấy, vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, ai biết bổn phận của người đó, điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị Quàng Thị H và anh Lò Văn T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 điều 51 và khoản 1 điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Quàng Thị H. Tuyên xử cho chị Quàng Thị H được ly hôn với anh Lò Văn T.
* Về con chung: Chị Quàng Thị H và anh Lò Văn T có 02 người con chung là cháu Lò Văn H, sinh ngày 16/01/2010 và cháu Lò Văn T1, sinh ngày 05/3/2006. Chị Quàng Thị H có nguyện vọng sau khi ly hôn, chị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục 02 cháu Lò Văn H, cháu Lò Văn T1 đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay các cháu Lò Văn H, cháu Lò Văn T1 đang được chăm sóc, học tập tốt nên để không gây xáo trộn về tâm lý đồng thời đảm bảo cho sự phát triển về tinh thần cũng như quyền lợi về mọi mặt, phù hợp với nguyện vọng của các cháu muốn ở với mẹ cần giao 02 cháu Lò Văn H, cháu Lò Văn T1 cho chị Quàng Thị H trực tiếp chăm nom, chăm sóc, giáo dục các cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Chị Quàng Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con chung, nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
* Tài sản chung; tài sản riêng; nợ phải trả; nợ thu về: Chị Quàng Thị H, anh Lò Văn T không có nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Chị Quàng Thị H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 của BLTTDS 2015.
- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84, Điều 86 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
- Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Quàng Thị H: Chị Quàng Thị H được ly hôn anh Lò Văn T.
2. Về con chung: Giao 02 cháu Lò Văn H, sinh ngày 16/01/2010 và cháu Lò Văn T1, sinh ngày 05/3/2006 cho chị Quàng Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu Lò Văn H, cháu Lò Văn T1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.
Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn: Chị Quàng Thị H không yêu cầu Toà án giải quyết cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lò Văn T có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai được cản trở quyền này. Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên; người thân thích; Cơ quan quản lý Nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý Nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung, tài sản riêng, nợ chung phải trả, nợ chung lấy về: Đương sự không có.
4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Quàng Thị H phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch. Chị Quàng Thị H đã nộp đủ 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0009325 ngày 29/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên.
5. Quyền kháng cáo: Chị Quàng Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lò Văn T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú của người vắng mặt.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Điện Biên; - VKSND huyện Mường Ảng; - Chi cục THADS huyện Mường Ảng; - UBND xã Ẳng Cang, h.Mường Ảng - Đương sự; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (đã ký) Nguyễn Thị Vân |