vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Tr.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tr được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Đ. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng H - sinh ngày 26/7/2016, Nguyễn Ngọc B – sinh ngày 15/4/2019 cho bà Nguyễn Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 735/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, giưa à Nguyễn Thị Tr va ông Nguy…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 09-3-2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Ba

Ông Nguyễn Ngọc Nam

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành: Ông Lê Trọng Minh – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 735/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 12 năm 2022, Quyết định hoãn phiên toà số 05/2023/QĐST-HNGĐ ngày 09/01/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 17/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16/02/2023, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1995

Địa chỉ: số 457, ấp 10, xã S, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 1988.

Địa chỉ: tổ 8, ấp L, xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.

(Đương sự vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tr trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Hoàng Đ tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển số 01/2015 ngày 20/10/2015.

Trong quá trình chung sống chúng tôi thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, vợ chồng không có tiếng nói chung, chồng không chịu đi làm, không lo cho con cái. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 7/2022 đến nay.

Nay tôi nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào bế tắc, mục đích hôn nhân không Đ được, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng đã sống ly thân. Nay tôi không còn tình cảm với ông Đ, nên tôi yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Đ.

Về con chung: Tôi và ông Đ có 02 con chung là Nguyễn Hoàng H - sinh ngày 26/7/2016, Nguyễn Ngọc B – sinh ngày 15/4/2019. Từ khi tôi và ông Đ sống ly thân tôi là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Ly hôn tôi yêu cầu được nuôi dưỡng cả 02 con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có.

- Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng ông Đ đều vắng mặt nên không có lời khai.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tr.

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tr được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Đ.

+ Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Hoàng H - sinh ngày 26/7/2016, Nguyễn Ngọc B – sinh ngày 15/4/2019 cho bà Nguyễn Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng.

Tạm thời ông Nguyễn Hoàng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con..

+ Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

+ Về án phí: Bà Tr phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tr có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đ đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Tr và ông Đ.

Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp ly hôn” quy định tại Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tr và ông Nguyễn Hoàng Đ tự nguyện đăng ký kết hôn, được UBND xã A, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn số 43, quyển số 01/2015 ngày 20/10/2015. Căn cứ Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xác định hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Tr và ông Nguyễn Hoàng Đ là hôn nhân hợp pháp.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Tr khởi kiện yêu cầu ly hôn với lý do tình trạng hôn nhân giữa bà và ông Đ là trầm trọng, xảy ra rất nhiều mâu thuẫn trong hôn nhân. Bà Tr xác định không còn tình cảm với ông Đ và yêu cầu xin ly hôn với ông Đ.

Tòa án đã xác minh tại địa phương (xã A, huyện Long Thành) về tình trạng hôn nhân của Nhung và ông Đ, kết quả như sau: Về mâu thuẫn vợ chồng bà Tr, ông Đ thì địa phương không rõ. Tuy nhiên, từ tháng 7/2022 bà Tr, ông Đ đã sống ly thân.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đến làm việc, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, phiên hòa giải, phiên tòa nhưng ông Đ đều vắng mặt, cũng không có ý kiến phản hồi về các nội dung theo đơn khởi kiện của nguyên đơn. Điều này cho thấy ông Đ không còn quan tâm đến mối quan hệ hôn nhân với bà Tr nữa, không có thiện chí hòa giải để vợ chồng hàn gắn, đoàn tụ với nhau. Do ông Đ không đến tham gia tố tụng tại Tòa án, không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; căn cứ khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Theo tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định tình trạng hôn nhân giữa bà Tr và ông Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không Đ được.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tr về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Đ.

Về con chung: Bà Tr và ông Đ có Nguyễn Hoàng H - sinh ngày 26/7/2016, Nguyễn Ngọc B – sinh ngày 15/4/2019. Theo lời khai của bà Tr và xác nhận của chính quyền địa phương thì hiện nay bà Tr đang trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung.

Ông Nguyễn Hoàng Đ không đến Tòa án tham gia tố tụng; không có ý kiến, yêu cầu gì về con chung; từ đó cho thấy ông Đ không có thiện chí hòa giải về vấn đề chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không có nguyện vọng nuôi con chung. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy tiếp tục giao con chung cho bà Tr nuôi dưỡng là phù hợp quy định của pháp luật.

Về tài sản chung: Bà Tr xác định không có tài sản chung. Mặt khác do chưa có lời khai của ông Nguyễn Hoàng Đ, nên không xem xét, giải quyết.

Về nợ chung: Bà Tr xác định không có nợ chung. Mặt khác do chưa có lời khai của ông Nguyễn Hoàng Đ, nên không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tr phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình theo quy định.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 91, 147, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng các điều 8, 9, 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Tr.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Tr được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Đ.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng H - sinh ngày 26/7/2016, Nguyễn Ngọc B – sinh ngày 15/4/2019 cho bà Nguyễn Thị Tr trực tiếp nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Hoàng Đ có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Tạm thời ông Nguyễn Hoàng Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Vì quyền lợi của con chung chưa thành niên, các bên được quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Tr phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp hôn nhân gia đình. Số tiền 300.000đ tạm ứng án phí bà Tr đã nộp, theo Biên lai thu số 0006188 ngày 11/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Thành được trừ vào tiền án phí bà Tr phải chịu. Bà Tr đã nộp xong.

5. Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nơi nhận:

- Đương sự;

- VKSND huyện Long Thành;

- Chi cục THADS huyện Long Thành;

- UBND xã, phường nơi đăng ký kết hôn;

- Lưu.

Phạm Ngọc Quyền

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Ba

Nguyễn Ngọc Nam

Phạm Ngọc Quyền

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ