vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng : Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a, b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự .

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự như sau : Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng : Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a, b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự .
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC
Số: 19/2023/HNGĐ – ST
Ngày: 24/4/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH – TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Thi

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Vui

2. Ông Võ Đức Thọ

- Thư ký phiên tòa : Ông Nguyễn Bá Anh Hùng – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Cao Thanh Nam - Chức vụ Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 271/2022/TLST-HNGĐ ngày 03/11/2022. Về tranh chấp “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2023/QĐXXST - HNGĐ ngày 31 tháng 3 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 17/2023/QĐHPT ngày 14/4/2023 giữa :

Nguyên đơn: Bà Trần Thị N, sinh năm 1985 ( có mặt) Địa chỉ : Tổ 4, ấp 2, xã Lộc An, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Chỗ ở hiện nay : Chợ Thiện Hưng, huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1981 ( có mặt ) Địa chỉ: Tổ 4, ấp 2, xã Lộc An, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 16 tháng 11 năm 2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn C chung sống với nhau từ năm 2002. Đến năm 2003 đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước. Trước khi chung sống với ông Cường chúng tôi quen nhau thời gian khoảng 01 năm. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm, không hiểu nhau. Hiện nay vợ chồng sống ly thân từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay, bà Nụ không thể chung sống với ông Cường được nữa nên làm đơn xin ly hôn với ông Cường .

- Về con chung : Vợ chồng có 03 con chung cháu Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày 11/9/2003, cháu Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 24/02/2007, Nguyễn Đức T, sinh ngày 30/10/2008, hiện nay các con đang sống chung với anh Cường tại tổ 4, ấp 2, xã Lộc An, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, khi ly hôn Nguyễn Thị Ngọc T và Nguyễn Đức T có nguyện vọng ở với ai thì người đó có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con, con tên Nguyễn Thị Tú T đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra vợ chồng không nhận ai làm con nuôi, hiện nay bà Nụ không có thai .

- Về tài sản : Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ : Hiện nay vợ chồng không nợ ai, và vợ chồng cũng không cho ai vay nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Văn C trình bày :

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn C tự nguyện chung sống vớ bà Trần Thị N từ năm 2002, đến 2003 đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước. Trước khi chung sống với bà Nụ chúng tôi quen nhau thời gian khoảng 01 năm . Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng bất đồng quan điểm, không hiểu nhau. Hiện nay vợ chồng sống ly thân từ tháng 02 năm 2022 cho đến nay, hiện nay cô Nụ làm đơn xin ly hôn ông Cường đồng ý ly hôn .

- Về con chung : Vợ chồng có 03 con chung cháu Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày 11/9/2003, cháu Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 24/02/2007, Nguyễn Đức T, sinh ngày 30/10/2008, hiện nay các con đang sống chung với anh Cường tại tổ 4, ấp 2, xã Lộc An, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, khi ly hôn Nguyễn Thị Ngọc T và Nguyễn Đức T có nguyện vọng ở với ai thì người đó có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con , con tên Nguyễn Thị Tú T đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra vợ chồng không nhận ai làm con nuôi, hiện nay bà Nụ không có thai .

- Về tài sản : Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ : Hiện nay vợ chồng không nợ ai, và vợ chồng cũng không cho ai vay nợ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phát biểu ý kiến:

Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.

- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị N .

- Về hôn nhân: Cho Trần Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Văn C .

- Về con chung: Giao con tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 24/02/2007, cho bà Nụ chăm sóc nuôi dưỡng, giao con tên Nguyễn Đức T, sinh ngày 30/10/2008 cho ông Cường chăm sóc nuôi dưỡng , bà Nụ, ông Cường không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

Con tên Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày 11/9/2003 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

- Về án phí : Đương sự phải chịu án phí theo luật định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định:

Về pháp luật tố tụng: Bà Trần Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Văn C, ông Cường có hộ khẩu tại tổ 4, ấp 2, xã Lộc An, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước nên Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Hội đồng xét xử xét thấy thời gian chung sống giữa bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn C có thời gian chung sống từ năm 2002 đến năm 2003 đăng ký kết hôn tại UBND xã Lộc Hiệp, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình phước.

Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, thường cãi nhau làm cho gia đình không còn hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thị N cho rằng vợ chồng mâu thuẫn xảy ra do bất đồng quan điểm ông Cương không tu trí làm ăn, không lo cho vợ con.

Hội đồng xét xử nhận định; Bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn C có thời gian chung sống từ năm 2003, trong quá trình chung sống vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, mức độ mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã ly thân suốt thời gian dài mà không hàn gắn được với nhau, tại phiên tòa bà Trần Thị N nhất quyết xin được ly hôn với ông Cường .

Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn C đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử ghi nhận .

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày 11/9/2003, Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 24/02/2007, Nguyễn Đức T, sinh ngày 30/10/2008.

Tại phiên tòa bà Trần Thị N và ông Nguyễn Văn C thỏa thuận, hiện nay bà Nụ nuôi cháu Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 24/02/2007, còn ông Cường nuôi cháu Nguyễn Đức T, sinh ngày 30/10/2008 để hai bên cùng có trách nhiệm nuôi con và đưa các con đi học nên Hội đồng xét xử ghi nhận .

Đối với con tên Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày 11/9/2003 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có .

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phù hợp với nhận xét của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Nguyên đơn bà Trần Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, như vậy bà Nụ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm .

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng : Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a, b khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự .

- Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự tự nguyện của các đương sự như sau :

- Bà Trần Thị N với ông Nguyễn Văn C thuận tình ly hôn .

2. Về con chung : Giao con tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh ngày 24/02/2007 cho bà Nụ chăm sóc, nuôi dưỡng, giao con tên Nguyễn Đức T, sinh ngày 30/10/2008 cho ông Nguyễn Văn C chăm sóc, nuôi dưỡng, bà Nụ, ông Cường không bên nào cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con tên Nguyễn Thị Tú T, sinh ngày 11/9/2003 đã trưởng thành không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con, có quyền nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân gia đình, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con .

3. Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ : Không có .

5. Về án phí: Bà Trần Thị N phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh theo biên lai thu tiền số 0010199 ngày 15/12/2022.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ