- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án hôn nhân gia đình"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST Ngày: 10/5/2023. V/v tranh chấp hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thanh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Nguyễn Văn Học.
+ Bà Nguyễn Thu Hương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Dũng – Thư ký Toà án nhân dân
huyện Phúc Thọ - Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ – Thành phố Hà
Nội tham gia phiên toà: Bà Khuất Thị Mỹ Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Phúc Thọ
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 54/2023/TLST - HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/4/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1992 HKTT: Tổ dân phố KQ, phường DN, quận Hà Đông, TP. Hà Nội. Nơi ở hiện tại: Thôn 1, xã PH, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Trịnh Bá Đ, sinh năm 1990 HKTT: Tổ dân phố KQ, phường DN, quận Hà Đông, TP. Hà Nội.
Hiện đang cải tạo tại Trại giam Thanh Lâm – Thôn Thăng Bình, Thị trấn Yên Cát, Huyện Như Xuân, Thanh Hóa. (Theo Bản án hình sự sơ thẩm số 324/2020/HS-ST ngày 30/12/2020 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, mức án 04 năm 6 tháng tù kể từ ngày 21/6/2020).
Xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại Đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn
trình bày:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Trịnh Bá Đ, sinh
năm 1990 HKTT: Tổ dân phố KQ, phường DN, quận Hà Đông kết hôn năm 2010 trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường DN, quận Hà Đông, TP. Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng chỉ hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn do không hợp nhau. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ nhiều năm nay. Nay chị L xác định tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn.
Về con chung: Anh Đ và chị L có 01 con chung là cháu Trịnh Bá Tuấn A,
sinh ngày 18/7/2014. Khi ly hôn chị L xin nuôi con chung và không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng.
Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Tại Biên bản lấy lời khai, bị đơn trình bày:
Anh Trịnh Bá Đỉnh kết hôn cùng chị Nguyễn Thị L năm 2010 trên cơ sở
tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường DN, quận Hà Đông, TP. Hà Nội. Quá trình chung sống, vợ chồng cũng có lúc mâu thuẫn. Lý do mâu thuẫn do không hợp nhau. Hai vợ chồng đã sống ly thân. Hiện tại anh Đ đang phải chấp hành hình phạt tù tại Thanh Hóa. Nay chị L xin ly hôn, anh Đ đồng ý.
2.Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung là cháu Trịnh Bá
Tuấn A, sinh ngày 18/7/2014. Khi ly hôn chị L xin nuôi con chung và hiện tại anh Đỉnh đang phải chấp hành án với hình phạt tù nên đồng ý việc chị L nuôi dưỡng con chung.
3. Về tài sản chung: Anh Đ không yêu cầu Toà án giải quyết.
*Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ
phát biểu ý kiến:
* Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử,
Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
* Ý kiến giải quyết vụ án:
Về tố tụng, Tòa án cần thực hiện việc lấy ý kiến của bị đơn về việc các
bên đồng ý Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ giải quyết vụ án trước khi thụ lý.
Về nội dung:
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn
Thị L, cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Trịnh Bá Đ.
+ Về con chung: Giao cháu Trịnh Bá Tuấn A, sinh ngày 18/7/2014 cho
chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị L không yêu cầu
anh Trịnh Bá Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.
+ Về tài sản chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị L và anh Trịnh Bá Đ không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra
tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Quan hệ tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là “Tranh chấp về ly
hôn, nuôi con chung”, hiện chị L đang tạm trú tại xã PH, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội, anh Trịnh Bá Đ hiện đang cải tạo tại Trại giam Thanh Lâm, tỉnh Thanh Hóa và đồng ý Tòa án nhân huyện Phúc Thọ giải quyết vụ án. Căn cứ Khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Anh Trịnh Bá Đ hiện đang chấp hành án phạt tù và có đơn đề nghị giải
quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ là đúng quy định tại Khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Về nội dung:
. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Chị Nguyễn Thị L và anh Trịnh Bá Đ kết hôn năm 2010 trên cơ sở tự
nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND phường DN, quận Hà Đông, TP. Hà Nội là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án, anh Đ đồng ý ly hôn chị L vì hai vợ chồng sống ly thân đã nhiều năm, không còn quan tâm đến nhau nữa. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về tình nghĩa vợ chồng thì: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Như vậy hiện tại chị L và anh Đ đã sống ly thân và đều không thực hiện đúng nghĩa vụ vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị L và anh Đ đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét cho chị L được ly hôn anh Đ là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
. Về con chung: Chị L và anh Đ có 01 con chung là cháu Trịnh Bá
Tuấn A, sinh ngày 18/7/2014. Khi ly hôn chị L xin nuôi dưỡng con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Hiện anh Đ đang phải chấp hành án phạt tù;
cháu Tuấn A có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, cần giao cháu Tuấn A cho chị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không
yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.
. Về tài sản chung: Chị L và anh Đ không yêu cầu Toà án giải quyết,
nên Hội đồng xét xử không xem xét.
. Về án phí: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các Điều 28, 35 và Điều 40; Khoản 4 Điều 147; Khoản 2
Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của UBTV Quốc hội Khóa 14 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị L, cho chị
Nguyễn Thị Lđược ly hôn anh Trịnh Bá Đ.
2. Về con chung: Giao cháu Trịnh Bá Tuấn A, sinh ngày 18/7/2014 cho
chị Nguyễn Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng đến khi cháu Tuấn A đủ 18 tuổi hoặc có quyết định thay đổi khác.
Anh Trịnh Bá Đ được quyền đi lại, thăm nom con chung không ai được
cản trở.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị L không yêu
cầu anh Trịnh Bá Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về tài sản chung: Ghi nhận chị Nguyễn Thị L và anh Trịnh Bá Đ không
yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn
đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0042056 ngày 14 tháng 4 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Chị L đã nộp đủ án phí.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng
dân sự;
Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ
ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày
nhận được bản án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND TP. Hà Nội;
- VKSND huyện Phúc Thọ;
- Chi cục THADS huyện Phúc Thọ;
- UBND phường Dương Nội, quận Hà Đông;
- Các đương sự;
- Lưu Hồ sơ vụ án.
Phạm Thanh Hải
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND huyện Hoài Đức; - Chi cục THADS huyện Hoài Đức; - UBND xã An Thượng; - Các đương sự; - Lưu Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Hải Nguyễn Hữu Huấn |