vanban.org

Bản án 19/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Ngọc Đ và Anh Nguyễn Văn C.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung: Cháu Nguyễn Thị T, sinh năm 2000, cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2001 và cháu Nguyễn Thị H 2003 (chết năm 2017). Hiện cháu T và cháu H đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Về chia tài sản chung và nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khá… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Trần Thị Điệp khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Văn Cảnh"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Ngọc Đ và Anh Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
TP. CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 15-02-2023
V/v Ly hôn giữa chị Đ và anh C.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Phụng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Vĩnh Khải

2. Ông Phạm Hồng Lưu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khánh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 213/2022/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn, nghĩa vụ chung. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 363/2022/QĐXX-ST ngày 23 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Ngọc Đ, sinh năm 1973; Trú tại: Ấp Đ, xã Đ, huyện T, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1978; Trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Trần Ngọc Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào khoảng năm 1997, do mai mối, tìm hiểu, chị Trần Ngọc Đ và anh Nguyễn Văn C tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn theo quy định. Thời gian đầu chung sống tình cảm vợ chồng hạnh phúc nhưng sau này phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh C không lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu về cự cải và thậm chí đánh chị. Từ đó, tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị Đ đã bỏ nhà đi sống ly thân từ năm 2007 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài được nên chị Đ xin được ly hôn với anh C.

Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung: Cháu Nguyễn Thị T, sinh năm 2000, cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2001 và cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2001 (chết 2017). Hiện cháu T và cháu H đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung: Không có.

Về nghĩa vụ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn anh Nguyễn Văn C vắng mặt không rõ lý do.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Ngọc Đ và anh Nguyễn Văn C.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung: Cháu Nguyễn Thị T, sinh năm 2000, cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2001 và cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2003 (chết 2017). Hiện các cháu đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Về chia tài sản chung, nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì tranh chấp giữa các bên được xác định là tranh chấp về Ly hôn, về nuôi con chung, chia tài sản khi ly hôn và nghĩa vụ chung. Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc tham gia tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Văn C vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ tiến hành xét xử vắng mặt anh C.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị Đ và anh C được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Do đó, có cơ sở xác định hôn nhân giữa chị Đ và anh C là hợp pháp. Chị Đ xác định thời gian đầu chung sống, tình cảm vợ chồng hạnh phúc nhưng thời gian sau này thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh C không lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu về lớn tiếng cự cải và thậm chí đánh chị. Từ đó, tình cảm vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên chị Đ đã bỏ nhà đi sống ly thân. Trong thời gian dài sống ly thân, vợ chồng không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị Đ nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, Tòa án thụ lý giải quyết thì cũng tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh C đều vắng mặt không rõ lý do. Tại phiên tòa, chị Đ cương quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh C, anh C tiếp tục vắng mặt không rõ lý do. Ngoài ra, theo Biên bản xác minh ngày 28/11/2022 thể hiện: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh C thường xuyên uống rượu say nên vợ chồng cự cãi nhau và chị Đ bỏ về nhà cha mẹ ruột sống ly thân hơn 10 năm nay. Điều đó chứng tỏ, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị Đ và anh C đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chị Đ xin ly hôn với anh C là có cơ sở nên chấp nhận.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung: Cháu Nguyễn Thị T, sinh năm 2000, cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2001 và cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2003 (chết năm 2017). Hiện cháu T và cháu H đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Đ xác định không có. Quá trình giải quyết vụ án, anh C vắng mặt không rõ lý do nên không ghi nhận được ý kiến của anh C về tài sản chung và nghĩa vụ chung. Do đó, tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi phát sinh tranh chấp.

Án phí: Nguyên đơn chị Đ phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Từ những căn cứ trên, việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227; Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Ngọc Đ và Anh Nguyễn Văn C.

2. Về nuôi con chung: Vợ chồng có 03 con chung: Cháu Nguyễn Thị T, sinh năm 2000, cháu Nguyễn Thị H, sinh năm 2001 và cháu Nguyễn Thị H 2003 (chết năm 2017). Hiện cháu T và cháu H đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.

3. Về chia tài sản chung và nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Ngọc Đ phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0009537 ngày 25 tháng 10 năm 2022 thành tiền án phí. Công nhận chị Đ đã nộp xong.

5. Án tuyên công khai, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 , Điều 7 a, Điều 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ