vanban.org

Bản án 19/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Công T đối với anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Lê Công T, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Về án phí: Anh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Công T đối với anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BẾN CẦU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2023/DS-ST
Ngày: 20-7-2023
V/v “tranh chấp dân sự về hợp đồng vay
tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy An

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Rẽn;

2. Bà Nguyễn Thị Ngưng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Cao Cường – Thư ký Toà án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 38/2023/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2023/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2023/QĐST-DS ngày 05 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Công T, sinh năm: 1964.

Địa chỉ: Tổ 2, ấp L, xã L, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Anh Đặng Hoàng A, sinh năm 1989

Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1956.

Cùng địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

Ông T, bà N có đơn xin xét xử vắng mặt; anh A vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2023 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn là ông Lê Công T trình bày:

Ông có quen biết với bà Nguyễn Thị Hồng Y, thông qua bà Y giới thiệu, ông mới cho anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N vay tiền nhiều lần, mục đích để trả đáo hạn ngân hàng, đến ngày 10/02/2023 thì ông cùng với anh Hoàng A, bà N làm giấy chốt nợ, hai bên làm Hợp đồng cho vay tiền ngày 10/02/2023, xác định số tiền vay là 390.000.000 đồng, anh A và bà N cùng ký tên, lăn tay, hẹn đến ngày 10/3/2023 sẽ trả tiền.

Khi cho vay hai bên có thỏa thuận miệng tiền lãi là 4.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày nhưng từ khi vay cho đến nay thì anh A và bà N cố tình né tránh, không trả tiền gốc và tiền lãi cho ông nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay ông yêu cầu anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N cùng có nghĩa vụ trả cho ông số tiền vay là 390.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi từ ngày 11/3/2023 (sau ngày có nghĩa vụ trả nợ) cho đến khi giải quyết xong vụ án với mức lãi suất là 0.83%/tháng.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 24/4/2023 bị đơn anh Đặng Hoàng A đã trình bày:

Anh biết ông Lê Công T thông qua chị Nguyễn Thị Hồng Y giới thiệu. Vào tháng 01/2023, thì anh có vay của ông T là 200.000.000 đồng, sau đó vay tiếp là 100.000.000 đồng; hai lần vay này đều để trả cho chị Y, anh có hứa với ông T là sẽ vay tiền ngân hàng trả lại cho ông nhưng sau đó ngân hàng không cho vay nên ngày 10/02/2023 thì ông T mới đến nhà anh làm giấy chốt nợ, tổng cộng số tiền gốc anh vay là 300.000.000 đồng, tiền lãi là 90.000.000 đồng, ông T yêu cầu cộng số tiền lãi này vào tiền gốc thì anh cũng chấp nhận, nên hai bên làm Hợp đồng cho vay tiền ngày 10/02/2023, xác định số tiền vay là 390.000.000 đồng (tiền gốc), anh và mẹ là bà Nguyễn Thị N cùng ký tên, lăn tay và hợp đồng, hẹn đến ngày 10/3/2023 sẽ trả tiền, nhưng đến nay anh chưa có khả năng trả cho ông T.

Khi vay thì anh và ông T có thỏa thuận miệng là trả lãi 5.000 đồng/1.000.000 đồng/1 ngày; nhưng hiện trả bao nhiêu thì anh không nhớ rõ.

Việc vay tiền, mẹ anh là bà N không biết gì, do anh trực tiếp thỏa thuận với ông T, nhưng khi chốt nợ thì mẹ cũng thống nhất cùng có nghĩa vụ trả nợ với anh nên nay anh chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T là anh và mẹ là bà Nguyễn Thị N cùng có nghĩa vụ trả cho ông Lê Công T số tiền gốc là 390.000.000 đồng; còn tiền lãi thì yêu cầu ông T bỏ bớt, vì hiện anh đang nợ nhiều người; tuy nhiên nếu ông T không đồng ý thì anh cũng đồng ý trả lãi theo quy định pháp luật. Đối với tiền lãi anh đã trả cho ông T là do hai bên tự thỏa thuận, anh cũng không có gì chứng minh nên anh không yêu cầu khấu trừ lại.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 12/4/2023 bị đơn bà Nguyễn Thị N đã trình bày:

Bà là mẹ ruột của anh Đặng Hoàng A. Anh Hoàng A là người trực tiếp thỏa thuận vay tiền với ông Lê Công T. Đến ngày 10/02/2023 thì ông T có đến nhà làm giấy chốt nợ với anh Hoàng A, ông T nói bà là mẹ nên phải cùng có nghĩa vụ trả nợ với Hoàng A, thì bà cũng đồng ý, lúc này bà mới biết số tiền Hoàng A vay của ông T là 390.000.000 đồng, bà cùng anh Hoàng A ký tên, lăn tay vào Hợp đồng cho vay tiền ngày 10/02/2023, hẹn đến ngày 10/3/2023 sẽ trả nhưng từ đó cho đến nay thì bà và anh Hoàng A không có khả năng trả nợ và cũng chưa trả được số tiền nào cho ông T.

Nay ông Lê Công T khởi kiện yêu cầu trả tiền, bà tuy không nhận tiền nhưng bà xác định đã vào ký giấy vay tiền và thương con nên bà đồng ý là bà và anh Hoàng A cùng có nghĩa vụ trả cho ông Lê Công T số tiền gốc là 390.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng: Thời hạn thụ lý, giải quyết vụ án; việc cấp tống đạt văn bản tố tụng và việc tuân thủ quy định pháp luật của người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết, nguyên đơn, bị đơn là bà N chấp hành theo quy định và có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng anh Hoàng A vắng mặt không lý do nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng quy định tại khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 288, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Công T đối với anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N. Buộc anh Hoàng A và bà N cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông T số tiền vay là 390.000.000 đồng và trả lãi từ ngày 11/3/2023 cho đến khi giải quyết xong vụ án với mức lãi suất là 0,83%/tháng.

Về án phí: Anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên bà N là người cao tuổi, có đơn xin miễn tiền án phí nên được miễn tiền án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án do các bên cung cấp và qua kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, xét thấy:

Về tố tụng: Ông T khởi kiện yêu cầu anh Hoàng A và bà N trả tiền nợ vay là tranh chấp về hợp đồng được qui định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ tại huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh theo khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết, ông T, bà N có đơn xin xét xử vắng mặt; riêng anh A được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự là đúng theo quy định.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Lê Công T thấy rằng:

Về yêu cầu trả tiền gốc: Quá trình làm việc, anh Hoàng A cho rằng có vay của ông T số tiền gốc là 300.000.000 đồng và 90.000.000 đồng tiền lãi nhưng khi làm hợp đồng chốt nợ thì anh thống nhất cộng số tiền 90.000.000 đồng này vào số tiền gốc anh nợ ông T, nên anh thừa nhận có vay và hiện còn nợ ông T số tiền gốc là 390.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay tiền ngày 10/02/2023. Bà N cho rằng không trực tiếp vay mượn tiền của ông T, nhưng khi chốt nợ thì bà biết, bà có ký tên vào hợp đồng cho vay tiền và đồng ý cùng với anh Hoàng A có nghĩa vụ trả cho ông T số tiền gốc là 390.000.000 đồng; lời thừa nhận của bị đơn là phù hợp với tài liệu, chứng cứ và lời khai của nguyên đơn cung cấp nên đây là sự kiện có thật không phải chứng minh được qui định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Do đó, cần buộc anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N cùng có nghĩa vụ trả cho ông Lê Công T số tiền gốc là 390.000.000 đồng là phù hợp với qui định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự.

[2.2] Về yêu cầu tính lãi từ ngày 11/3/2023 (sau ngày hết hạn trả tiền) cho đến ngày xét xử (ngày 20/7/2023) với mức lãi suất là 0,83%/tháng là phù hợp theo quy định tại khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự, qua làm việc anh Hoàng A và bà N cũng đồng ý trả lãi theo quy định pháp luật cho ông T nên ghi nhận.

Cụ thể: Từ ngày 11/3/2023 đến ngày 20/7/2023 là 04 tháng 09 ngày x 0,83%/tháng x 390.000.000 đồng = 13.919.100 đồng.

Do đó buộc anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Công T số tiền gốc là 390.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 20/7/2023 là 13.919.100 đồng.

Về án phí và quyền kháng cáo: Anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên bà N là người cao tuổi, có đơn xin miễn tiền án phí nên được miễn tiền án phí theo quy định. Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 463, 466, 468, 470, 288 của Bộ luật dân sự; Điều 92, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Công T đối với anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N về tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Buộc anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N cùng có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Lê Công T số tiền là 403.919.100 (bốn trăm lẻ ba triệu chín trăm mười chín nghìn một trăm) đồng (trong đó tiền gốc là 390.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 20/7/2023 là 13.919.100 đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Lê Công T, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2. Về án phí: Anh Đặng Hoàng A phải chịu 10.078.400 (mười triệu không trăm bảy mươi tám nghìn bốn trăm) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bà N là người cao tuổi nên được miễn tiền án phí theo qui định tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Hoàn trả cho ông Lê Công T số tiền tạm ứng án phí nộp là 9.750.000 (chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0023044 ngày 07/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

3. Về quyền kháng cáo bản án: ông Lê Công T, anh Đặng Hoàng A và bà Nguyễn Thị N có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ