- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V – Chi nhánh Duyên Hải.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2023/DS-ST Ngày: 15 - 6 - 2023 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Chi
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Thạch Thị Mỹ Kim
2. Ông Trần Văn Út
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Giữ, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thu Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2023, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án thụ lý số: 69/2023/TLST-DS, ngày 20 tháng 3 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2023/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng V, địa chỉ: Số L, đường Q, phường Z, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Văn K, Giám đốc Chi nhánh Duyên Hải, địa chỉ: số M, khóm A, phường T, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. (có mặt)
- Bị đơn: Bà Quách Bảo D, sinh năm 1992, địa chỉ: Số B, khóm N, phường H, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh. (vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trương Văn K trình bày:
Vào ngày 23/9/2017, bà Quách Bảo D có ký với Ngân hàng V – Chi nhánh Duyên Hải Hợp đồng sử dụng thẻ số: 981308, ngày 25/9/2017, bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng, điều khoản, điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng. Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng, cấp theo chính sách thu nhập với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, đến ngày 22/11/2022 bà Quách Bảo D đã thực hiện các giao dịch rút tiền, lãi phí với tổng số tiền 117.964.047 đồng, trong đó: Tổng số tiền giao dịch là 85.549.000 đồng, tổng số tiền lãi là 28.093.454 đồng, tổng số tiền phí là 4.321.593 đồng. Quá trình sử dụng thẻ đến ngày 22/11/2022 bà D đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 92.965.797 đồng. Đến ngày 31/5/2022 đến hạn thanh toán định kỳ nhưng bà D không thanh toán. Qua nhiều lần nhắc nhở nhưng bà D không có thiện chí trả nợ nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Quách Bảo D trả số tiền 24.998.250 (hai mươi bốn triệu chín trăm chín mươi tám nghìn hai trăm năm mươi) đồng, trong đó tiền nợ gốc là 23.415.370 (hai mươi ba triệu bốn trăm mười lăm nghìn ba trăm bảy mươi) đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 22/11/2022 là 1.582.880 (một triệu năm trăm tám mươi hai nghìn tám trăm tám mươi) đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi bà D trả hết số tiền còn nợ.
- Bị đơn bà Quách Bảo D vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, ông Trương Văn K vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu bị đơn bà Quách Bảo D trả số tiền nợ sau khi đã trừ 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng tiền mà bà D đã nộp vào nợ gốc là 24.130.050 (hai mươi bốn triệu một trăm ba mươi nghìn không trăm năm mươi) đồng, trong đó tiền nợ gốc là 16.915.370 (mười sáu triệu chín trăm mười lăm nghìn ba trăm bảy mươi) đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 15/6/2023 là 7.214.680 (bảy triệu hai trăm mười bốn nghìn sáu trăm tám mươi) đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi bà D trả hết số tiền còn nợ.
- Bị đơn bà Quách Bảo D vắng mặt nên không có lời trình bày.
Các đương sự cũng không thỏa thuận được gì với nhau về việc giải quyết vụ án và cũng không đương sự nào cung cấp bổ sung tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh cho yêu cầu của mình.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh đối với việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về: thẩm quyền thụ lý, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ những người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời hạn xét xử, quyết định đưa vụ án ra xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa hôm nay đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý đến thời điểm này, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng theo quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 401, 463, 466 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015. Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V – Chi nhánh Duyên Hải. Buộc bị đơn bà Quách Bảo D phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ là 24.130.050 (hai mươi bốn triệu một trăm ba mươi nghìn không trăm năm mươi) đồng, trong đó tiền nợ gốc là 16.915.370 (mười sáu triệu chín trăm mười lăm nghìn ba trăm bảy mươi) đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 15/6/2023 là 7.214.680 (bảy triệu hai trăm mười bốn nghìn sáu trăm tám mươi) đồng. Đình chỉ giải quyết một phần đối với số tiền 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng mà nguyên đơn đã rút lại. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật của vụ án: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Về tố tụng:
Bị đơn bà Quách Bảo D mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự này theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Bị đơn bà Quách Bảo D nợ của nguyên đơn Ngân hàng V – Chi nhánh Duyên Hải sau khi đã trừ số tiền nợ gốc 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng mà bà D đã nộp, tổng số tiền là 24.130.050 (hai mươi bốn triệu một trăm ba mươi nghìn không trăm năm mươi) đồng, trong đó tiền nợ gốc là 16.915.370 (mười sáu triệu chín trăm mười lăm nghìn ba trăm bảy mươi) đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 15/6/2023 là 7.214.680 (bảy triệu hai trăm mười bốn nghìn sáu trăm tám mươi) đồng là có thật, được thể hiện tại Hợp đồng sử dụng thẻ số: 981308, ngày 25/9/2017 do nguyên đơn cung cấp.
Bị đơn bà Quách Bảo D không có mặt tại địa chỉ do nguyên đơn cung cấp, tuy nhiên, qua kết quả xác minh thì bà D có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ này nên có căn cứ để Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh tiến hành thủ tục niêm yết tại địa chỉ nơi đương sự này cư trú. Việc bà D bỏ địa phương đi không cung cấp cho nguyên đơn địa chỉ thể hiện bị đơn che giấu nơi cư trú, trốn tránh trách nhiệm trả nợ và từ bỏ quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của của mình.
Đối với số tiền nợ gốc, Hội đồng xét xử xét thấy việc nguyên đơn rút lại một phần yêu cầu khởi kiện là toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật. Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V – Chi nhánh Duyên Hải yêu cầu bị đơn bà Quách Bảo D phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền nợ là 24.130.050 (hai mươi bốn triệu một trăm ba mươi nghìn không trăm năm mươi) đồng, trong đó tiền nợ gốc là 16.915.370 (mười sáu triệu chín trăm mười lăm nghìn ba trăm bảy mươi) đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 15/6/2023 là 7.214.680 (bảy triệu hai trăm mười bốn nghìn sáu trăm tám mươi) đồng như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát.
Về án phí: Do được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Bị đơn bà Quách Bảo D phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 207, điểm c khoản 1 Điều 217 và điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 280, 463, 466 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng.
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V – Chi nhánh Duyên Hải.
Buộc bị đơn bà Quách Bảo D phải trả cho nguyên đơn Ngân hàng V – Chi nhánh Duyên Hải tổng số tiền nợ là 24.130.050 (hai mươi bốn triệu một trăm ba mươi nghìn không trăm năm mươi) đồng, trong đó tiền nợ gốc là 16.915.370 (mười sáu triệu chín trăm mười lăm nghìn ba trăm bảy mươi) đồng và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 15/6/2023 là 7.214.680 (bảy triệu hai trăm mười bốn nghìn sáu trăm tám mươi) đồng.
Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc 6.500.000 (sáu triệu năm trăm nghìn) đồng.
Kể từ ngày 16/6/2023 thì bà Quách Bảo D phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ số: 981308, ngày 25/9/2017, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong Hợp đồng sử dụng thẻ số: 981308, ngày 25/9/2017 các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà bà D phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng V – Chi nhánh Duyên Hải cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng V – Chi nhánh Duyên Hải.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Quách Bảo D phải nộp 1.206.503 (một triệu hai trăm lẻ sáu nghìn năm trăm lẻ ba) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng V – Chi nhánh Duyên Hải không phải nộp án phí sơ thẩm nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0013487, ngày 06/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử sơ thẩm công khai báo đương sự có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường nơi đương sự cư trú để Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND TTV; - VKSND TPTV; - Chi cục THADS TPTV; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Thị Bích Chi |