- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị T phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luậ…"
- Tòa quyết gì? Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2022/HSST Ngày 25-04-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Thanh Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Lan Hương
2. Bà Mai Thị Hiền
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nga – Thư ký tòa án nhân dân thành phố L.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố L tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Ngọc Thạch – Kiểm sát viên.
Ngày 25/04/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố L.
Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 15/2022/HSST ngày 11 tháng 03 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 04 năm 2022 đối với bị cáo:
Đỗ Thị T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ.
Sinh ngày: 24/4/1988 tại huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.
ĐKNKTT và nơi ở: Tổ 7, phường B, thành phố L,tỉnh Lào Cai.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hóa: lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do.
Tiền sự: Không; Tiền án: Không
Con ông Đỗ Văn Thuần và bà Bùi Thị Thắm. Bị cáo có chồng là Lương Đức Tám, bị cáo có 03 người con lớn nhất sinh năm 2011 nhỏ nhất sinh năm 2018. Bị cáo Đỗ Thị T được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/12/2021 (có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại: Anh Đào Ngọc D (Đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại Đào Ngọc D:
Chị Bùi Thị D – sinh năm 1977
Địa chỉ: Tổ 14, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Ông Đào Ngọc O – sinh năm 1952
Địa chỉ: Tổ 04, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Bà Phạm Thị X – sinh năm 1954
Địa chỉ: Tổ 04, phường N, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Cháu Đào Ngọc D – sinh năm 2001
Địa chỉ: Tổ 14, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Bùi Thị D, bà Phạm Thị X:
Ông Đào Ngọc O - sinh năm 1952
Địa chỉ: Tổ 4, phường N,thành phố L,tỉnh Lào Cai. (có mặt tại phiên toà).
Người đại diện theo uỷ quyền của cháu: Đào Ngọc D
Anh Bùi Văn G – sinh năm 1980
Địa chỉ: Thôn Phú Hùng, xã T, thành phố L, tỉnh Lào Cai (Có mặt tại phiên toà).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 06/10/2021, Đỗ Thị T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-127.81 đi từ cửa hàng điện máy của gia đình tại số nhà 247 đường Hoàng Quốc Việt để về nhà ở phường B. Khi đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Hoàng Quốc Việt và đường Hoàng Văn Thái thuộc tổ 7, phường B, thành phố L, Đỗ Thị T điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái vào đường Hoàng Văn Thái để đi sang phường B, khi điều khiển xe vào đường Hoàng Văn Thái do không chú ý quan sát nên đã đâm vào anh Đào Ngọc D đang đi bộ ngang qua đường Hoàng Văn Thái. Hậu quả anh Duy bị thương nặng phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai, đến ngày 07/10/2021 anh Đào Ngọc D tử vong. Sau khi gây tai nạn, Đỗ Thị T đã đến Công an thành phố L để khai báo toàn bộ nội dung sự việc.
Hiện trường xảy ra vụ tai nạn là đường Hoàng Văn Thái có chiều rộng mặt đường xe chạy là 5m17, vị trí xảy ra tai nạn là trên làn đường bên trái theo hướng đi của xe ô tô, cách lề đường bên trái theo hướng đi là 1,17m, đường thông thoáng, tầm nhìn rộng và không có vạch sơn kẻ dành cho người đi bộ qua đường.
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 92/GĐPY ngày 06/11/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lào Cai, kết luận nguyên nhân chết của anh Đào Ngọc D là ngừng tuần hoàn, ngừng hô hấp do chấn thương sọ não (chảy máu não).
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo Đỗ Thị T phải bồi thường thiệt hại gồm các khoản sau: Tiền viện phí, mai táng phí là 191.885.000đồng ; tiền tổn thất tinh thần là 100.000.000đồng; tiền hỗ trợ nuôi cháu Đào Thị Dịu là 280.000.000đồng, tiền nuôi cháu Đào Mạnh Dũng là 20.000.000đồng. Sau khi sẩy ra tai nạn bị cáo Đỗ Thị T đã bồi thường cho gia đình bị hại được số tiền là 36.000.000đồng và tiền đến thắp hương là 5.000.000đồng. Tổng số tiền bị cáo Đỗ Thị T còn phải bồi thường là 550.885.000đồng. Ngày 05 tháng 4 năm 2022 bị cáo Đỗ Thị T đã bồi thường cho bị hại số tiền 170.000.000đồng, ngày 19 tháng 4 năm 2022 Toà án nhân dân thành phố L nhận được đơn đề nghị của người đại diện hợp pháp của bị hại ông Đào Ngọc O, anh Bùi Văn G về việc không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự, xin rút toàn bộ phần yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Về vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C- 127.81 nhãn hiệu Nissan, số loại: Navara, số máy: YD25687618T, số khung: 2D23Z0016406, màu sơn: Nâu; 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số:019228, biển số xe đăng ký: 98C- 127.81, tên chủ xe: Lương Văn Bộ, sinh năm 1972; 01(Một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: 3704641; 01(Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số DK20/0065088; 01 (Một) Giấy phép lái xe số: 101200004129 mang tên Đỗ Thị T chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố L để giải quyết theo quy định.
Cáo trạng số 12/CT-VKSTPLC ngày 10/03/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, truy tố bị cáo Đỗ Thị T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 – Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đỗ Thị T về tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 - Bộ luật Hình sự ; khoản 1,khoản 2 Điều 65; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 (Một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (Một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là từ 02 (năm) 06 (sáu)tháng đến 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 260 đối với bị cáo Đỗ Thị T.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 48- Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106- Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Đỗ Thị T gồm:
- 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C- 127.81 nhãn hiệu Nissan, số loại: Navara, số máy: YD25687618T, số khung: 2D23Z0016406, màu sơn: Nâu;
- 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số:019228, biển số xe đăng ký: 98C-127.81, tên chủ xe: Lương Văn Bộ, sinh năm 1972;
- 01(Một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: 3704641;
- 01(Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số DK20/0065088;
- 01 (Một) Giấy phép lái xe số: 101200004129 mang tên Đỗ Thị T.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đỗ Thị T đã khắc phục hậu quả tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại Đào Ngọc D, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin rút toàn bộ phần yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự, đến nay không yêu cầu gì về phần bồi thường.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo,người đại diện hợp pháp của bị hại theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tống tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp tang vật thu giữ, phù hợp với kết luận giám định, biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 06/10/2021, Đỗ Thị T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 98C-127.81 đi ra đường Hoàng Quốc Việt để về nhà ở phường B. Khi đi đến khu vực ngã ba giao nhau giữa đường Hoàng Quốc Việt và đường Hoàng Văn Thái, Đỗ Thị T điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái vào đường Hoàng Văn Thái để đi sang phường B, khi điều khiển xe vào đường Hoàng Văn Thái do không chú ý quan sát nên đã đâm vào anh Đào Ngọc D đang đi bộ ngang qua đường Hoàng Văn Thái. Hậu quả anh Duy bị thương nặng phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai, đến ngày 07/10/2021 anh Đào Ngọc D tử vong. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 – Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo ra trước Tòa án nhân dân thành phố L là hoàn toàn đúng quy định pháp luật.
Bị cáo Đỗ Thị T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có sức khoẻ và sự hiểu biết xã hội, pháp luật. Bị cáo được đào tạo cấp bằng lái xe theo quy định của pháp luật hiểu biết việc tham gia giao thông cần phải chấp hành nghiêm các quy định về Luật giao thông đường bộ. Nhưng ngày 06/10/2021 bị cáo trong khi điều khiển xe ô tô chuyển hướng rẽ trái vào đường Hoàng Văn Thái để đi sang phường B, khi điều khiển xe vào đường Hoàng Văn Thái do không chú ý quan sát nên đã đâm vào anh Đào Ngọc D đang đi bộ ngang qua đường Hoàng Văn Thái. Hậu quả anh Duy bị thương nặng phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai, đến ngày 07/10/2021 anh Đào Ngọc D tử vong. Bị cáo đã vi phạm vào khoản 1 Điều 9 và khoản 4 Điều 11của Luật giao đường bộ.
Đối với người bị hại anh Đào Ngọc D khi đi bộ qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường không đảm bảo an toàn, cũng có một phần lỗi theo quy định tại khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ người khác. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo và cũng đúng theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 65-Bộ luật Hình sự.
Xét hành vi của bị cáo không cần thiết phải cấm hành nghề lái xe một thời gian nhất định theo khoản 5 Điều 260 – Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Sau khi sảy ra tai nạn bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gây ra cho người bị hại, ngoài ra bị cáo còn có ông nội là ông Đỗ Văn Huân được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, tại phiên toà người đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng theo quy định tại b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51- Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường các khoản tiền: Tiền viện phí, mai táng phí, tổn thất tinh thần, tiền nuôi dưỡng hai con của bị hại.Tổng số tiền bị cáo Đỗ Thị T phải bồi thường là 591.885.000đồng. Sau khi sẩy ra tai nạn bị cáo Đỗ Thị T đã bồi thường cho gia đình bị hại được số tiền là 36.000.000đồng và tiền đến thắp hương là 5.000.000đồng. Đến ngày 05 tháng 4 năm 2022 bị cáo Đỗ Thị T đã bồi thường cho bị hại số tiền 170.000.000đồng và ngày 19 tháng 4 năm 2022 Toà án nhân dân thành phố L nhận được đơn đề nghị của người đại diện hợp pháp của bị hại ông Đào Ngọc O, và người được uỷ quyền của người đại diện hợp pháp anh Bùi Văn G về việc không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì về trách nhiệm dân sự, xin rút toàn bộ phần yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật.Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
Về vật chứng vụ án gồm:
- 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C- 127.81 nhãn hiệu Nissan, số loại: Navara, số máy: YD25687618T, số khung: 2D23Z0016406, màu sơn: Nâu;
- 01 (Một) chứng nhận đăng ký xe ô tô số:019228, biển số xe đăng ký: 98C-127.81, tên chủ xe: Lương Văn Bộ, sinh năm 1972;
- 01(Một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: 3704641;
- 01(Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số DK20/0065088;
- 01 (Một) Giấy phép lái xe số: 101200004129 mang tên Đỗ Thị T. Tại phiên toà bị cáo Đỗ Thị T xin lại tài sản và các giấy tờ trên, xét thấy không cần thiết phải tạm giữ chiếc xe trên và các giấy tờ để đảm bảo thi hành án nên trả lại cho bị cáo là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; điểm b,s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Đỗ Thị T 15(Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đỗ Thị T cho UBND phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trả lại cho bị cáo Đỗ Thị T những tài sản đồ vật sau:
- 01 xe ô tô biển kiểm soát 98C- 127.81 nhãn hiệu Nissan, số loại: Navara, số máy: YD25687618T, số khung: 2D23Z0016406, màu sơn: Nâu;
- 01 (Một) Chứng nhận đăng ký xe ô tô số:019228, biển số xe đăng ký: 98C-127.81, tên chủ xe: Lương Văn Bộ, sinh năm 1972;
- 01(Một) Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ số: 3704641;
- 01(Một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe ô tô số DK20/0065088;
- 01 (Một) Giấy phép lái xe số: 101200004129 mang tên Đỗ Thị T.
( Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/03/2022)
Về án phí: Áp dụng điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo Đỗ Thị T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
Bị cáo, Đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, thành phố - THA dân sự; - PC 10; - Nhà tạm giữ CATP; - Bị cáo; ĐDhợp phápcủabị hại; - Lưu HS – TA, THA. | Đỗ Thị Thanh Hƣơng |