- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ su…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2022/HSST Ngày 10 tháng 5 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẠC, TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Bình Thuận
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Hoàng Văn Khảm
2.Ông Đoàn Văn Đoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại Hội trường Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐXXST-HS ngày 27/4/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 06/10/1970; sinh trú quán: Thôn 8, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 3/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam, con ông Nguyễn Văn Y (đã chết) và bà Trần Thị L, sinh năm 1943; vợ: Trần Thị E, sinh năm 1973; con: Có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không; tiền sử: Ngày 22/05/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Lạc xử phạt 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 22/4/2019 chấp hành xong bản án (đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2021 đến nay,(có mặt).
Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989 ; trú tại: Thôn 8, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc,(vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 30/12/2021, tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn 8, xã T, huyện Y, Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy thì bị Công an huyện Yên Lạc phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 01 gói nhỏ bên ngoài bọc giấy bạc, bên trong đựng chất bột cục màu trắng tại túi áo phía trước bên trái của T, niêm phong trong bao gói kí hiệu A1.
Quá trình điều tra T khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/12/2021, T (là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2017) đang ở nhà thì có người đàn ông tên N, khoảng 50 tuổi ở xã H, huyện Y (là bạn nghiện ma túy của T), đến nhà rủ T đi đến xã T, huyện M, thành phố Hà Nội tìm mua ma túy để sử dụng, T đồng ý. Sau đó N điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Honda Dream, không rõ biển kiểm soát chở T đến đê trung ương thuộc xã T, huyện M thì T xuống xe đứng đợi, còn N một mình điều khiển xe mô tô đi mua ma túy. Khoảng 10 phút sau thì N quay lại và đưa cho T 01 gói nhỏ ma túy để sử dụng. T nhận gói ma túy rồi cất vào túi áo phía trước bên trái rồi cùng N đi về nhà. Khi đi đến đoạn đường liên thôn thuộc thôn 8, xã T, huyện Y thì T xuống xe đi bộ để tìm nơi sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang, còn N điều khiển xe bỏ đi.
Ngày 02/01/2022 Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc có văn bản số 55/KLGĐ kết luận: Chất bột cục màu trắng của mẫu ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1559g.
Đối với người đàn ông tên N mà T đã khai nhận cùng đi mua ma túy, Cơ quan điều tra đã xác minh và triệu T nhiều lần đối với Đặng Văn N nhưng N vắng mặt tại địa phương nên chưa làm rõ được vai trò, hành vi của N. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ xử lý sau.
Vật chứng vụ án: Gồm mẫu trả còn lại sau giám định A1= 0,1016g và toàn bộ bao gói.
Tại cáo trạng số: 24/CT-VKS ngày 19/4/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung cáo trạng truy tố bị cáo. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 08 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (30/12/2021), không áp dụng hình phạt bổ sung. Và đề nghị giải quyết vật chứng theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, ăn năn hối hận, bị cáo đồng ý với luận tội của đại điện viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Yên Lạc, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyệnYên Lạc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng thu giữ được cùng với các tài liệu chứng cứ khác thể hiện trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung cáo trạng đã được đại diện Viện kiểm sát công bố tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 30/12/2021, tại khu vực đường liên thôn thuộc thôn 8, xã T, huyện Y, Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy Heroine theo kết luận giám định bằng 0,1559g thì bị Công an huyện Yên Lạc phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a)...
c) Hroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”
Do đó bản cáo trạng số 24/CT-VKS ngày 19/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội. Hành vi của bị cáo không những gây mất trật tự trị an xã hội mà còn làm tệ nạn ma túy ngày càng lan rộng hơn trong đời sống xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị xử phạt tù về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần phải xử phạt bịcáo một mức án tù nhất định tương xứng với hành vi phạmtội của bị cáo để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập, công việc ổn định, không có tài sản gì nên Hội đồng xét xử xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng vụ án: Mẫu trả còn lại sau giám định A1= 0,1016g và bao gói là vật chứng vụ không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 30/12/2021).
Về vật chứng: Tịch thu mẫu trả còn lại sau giám định A1= 0,1016g và bao gói để tiêu hủy, (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2021 giữa Công an huyện Yên Lạc và Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Lạc).
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Yên Lạc; - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc; - Công an huyện Yên Lạc; - Chi cục THADS huyện Yên Lạc; - Bị cáo; - Lưu hs; vp. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Bình Thuận |