vanban.org

Bản án 19/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea Kar , tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 06/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Y P Êban phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. I.Hình phạt chính: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y P Eban phạm tội mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLH…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Y P Êban phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUỴÊN EA KAR
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HSST.
Ngày: 06 - 05 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA KAR, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Ngọc.

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Tuyết.

Ông Y Nik Êban.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar tham gia phiên tòa: Bà Giản Thị Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 06/05/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huỵên Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:

H T ngày tháng n m

, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/HSST – QĐ ngày 25 tháng 04 n m 22 đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Y P Êban – inh n m: 2001; Tên gọi khác: Không.

Nơi sinh: huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Nơi cư trú: Buôn A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp; Trình độ v n hóa: 8/12; Dân tộc: Ê đê; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Y T Niê (đã chết) và con bà H M Êban sinh n m: 98 , bị cáo chưa có vợ con, hiện mẹ bị cáo trú tại: Buôn A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/9/2021 hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Ea Kar. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Bị cáo Trần Mạnh H – inh n m: 1981; Tên gọi khác: Không.

Nơi sinh: huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Buôn E, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ v n hóa: 1/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Trần Mạnh H (đã chết) và con bà Vũ Thị S sinh n m: 95 ; Hiện sống tại thôn Y, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền sự: không.

Tiền án: 02 tiền án về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

+ Ngày 24/7/2013, bị Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, xử phạt 03 n m 6 tháng tù, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 209 ngày

7

) đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xoá án tích;

+ N m 8 có hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy với định lượng ma túy là 9 gam nhưng do đang có tiền án, về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, ngày 05/11/2018 bị Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột, xử phạt 02 n m 6 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án số 288 ngày 5

8) đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xoá án tích.

Nhân thân:

+ Ngày

bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt n m tù về tội: Cướp giật tài sản (Bản án số 8 ngày

) đã chấp hành xong hình phạt và đã được xoá án tích;

+ Ngày

bị Tòa án nhân dân huyện Krông Chro tỉnh Gia Lai xử phạt n m 6 tháng tù về tội: Cố ý gây thương tích (Bản án số ngày

) đã chấp hành xong hình phạt và đã được xoá án tích;

+ Ngày 7

7 Bị Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt

n m 6 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản (Bản án số 8 ngày 7

7) đã chấp hành xong hình phạt và đã được xoá án tích;

+ Ngày 5

bị Ủy ban nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột tỉnh Đắk Lắk ra Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tháng. Ngày 9 chấp hành xong quyết định;

+ Ngày 15/8/2016, bị Tòa án nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng, ngày 01/02/2018 chấp hành xong quyết định.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hoàng Thị Huệ – inh n m 975. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Buôn E, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

2. Bà H M Mlô. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Buôn T, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

3. Ông Y M Mlô sinh n m 997. (vắng mặt)

Nơi cư trú: Buôn , xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

- Người làm chứng:

1. Ông Hồ Đức H sinh n m 987. (vắng mặt)

Nơi cư trú: TDP , thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

. Bà Trương Thị Bảo Y sinh n m 99 . (có mặt)

Nơi cư trú: Buôn E, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Y P Êban là đối tượng nghiện ma túy; để có tiền tiêu xài và mua ma tuý sử dụng nên đã nảy sinh ý định mua ma tuý về đem bán kiếm lời. Ngày 29/9/2021, Y P đi đến buôn E, thị trấn E hỏi mua 01 gói ma túy với giá 8 . đồng của một người tên H; Sau khi mua ma tuý xong thì mang về nhà ở buôn M A sử dụng 02 lần, số còn lại chia làm 03 phần, bỏ vào gói nhựa màu trắng hơ lửa dán kín miệng rồi giấu trong ví da và thường xuyên mang theo trong người nhằm mục đích bán kiếm lời. Khoảng 11 giờ ngày 30/9/2021, khi Y P đang ở nhà thì có người tên Th (không rõ nhân thân lai lịch) gọi điện hỏi mua 01 gói ma túy với giá

. đồng; Y P đồng ý và hẹn Thanh đến đường Lê Thị Hồng G thuộc buôn E, thị trấn E, huyện E để giao ma túy. au đó Y Ph nhặt 01 vỏ chai nước ngọt nhãn hiệu Rồng Đỏ, nhét 01 gói ma túy vào phía sau vỏ ni lông in nhãn hiệu Rồng đỏ rồi cầm chai nước trên tay; Còn 02 gói ma túy vẫn cất trong ví da để túi quần mặc trên người và mượn xe mô tô biển số 47H1-167.09 của Y T Mlô đến điểm hẹn bán ma túy. Khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi Y P đi đến đường Lê Thị Hồng G thuộc buôn E, thị trấn E gặp T nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Ea Kar phát hiện bắt quả tang hành vi mua bán trái phép chất ma túy, trong lúc bắt giữ Y P, đối tượng Th đã chạy thoát.

Mở rộng điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện E tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Trần Mạnh H tại phòng trọ số 5 (Hải thuê phòng trọ của bà Hoàng Thị Huệ) thuộc buôn E, thị trấn E vào lúc 15 giờ phút ngày 9

đã thu giữ được 01 gói nhựa màu trắng bên trong đựng chất rắn dạng tinh thể trong suốt bỏ trong 01 hộp nhựa hình tròn để trên kệ gỗ giáp cửa ra vào phòng trọ. H khai nhận là ma túy đá mua của người đàn ông tên Cu (không rõ nhân thân lai lịch) mục đích là để sử dụng.

Kết quả thử ma tuý vào ngày 9

xác định Y P Êban và Trần Mạnh H dương tính (+) với ma túy.

Vật chứng thu giữ được:

- 01 gói nhựa trắng bên trong đựng chất rắn dạng tinh thể trong suốt, bỏ phía sau vỏ chai nước ngọt in nhãn hiệu Rồng đỏ, Y P đang cầm trên tay trái.

- 02 gói nhựa màu trắng bên trong đựng chất rắn dạng tinh thể trong suốt, bỏ trong ví da màu đen nhãn hiệu Polo do Y P Êban để trong túi quần bên phải mặc trên người;

- 01 gói nhựa trắng bên trong đựng chất rắn dạng tinh thể trong suốt bỏ trong 01 hộp nhựa hình tròn

- 01 vỏ chai nước ngọt hiệu Rồng đỏ;

- điện thoại di động Iphone, màu trắng gắn sim điện thoại 0941.568.829;

- điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, gắn sim điện thoại số 0833.477.744;

- 01 xe mô tô biển số 47H1-167.09 hiệu Exciter.

Tại Bản kết luận giám dịnh số

QĐMT-PC09 ngày 08/10/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận:

Mẫu 1: Chất rắn dạng tinh thể trong suốt bên trong 01 gói nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2433gam, loại Methamphetamine;

Mẫu 2: Chất rắn dạng tinh thể trong suốt bên trong 02 gói nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,1400gam, loại Methamphetamine;

Mẫu 3: Chất rắn dạng tinh thể trong suốt bên trong 01 gói nhựa màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,2949 gam, loại Methamphetamine;

Tại bản cáo trạng số 15/K ĐT - HS, ngày 11 tháng 03 n m 022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar đã truy tố bị cáo Y P Êban về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và truy tố bị cáo Trần Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng.

Phần tranh luận tại phiên Tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện EaKar giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Y P Êban về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và truy tố bị cáo Trần Mạnh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

C n cứ khoản Điều 251 BLH ; điểm s Khoản 1, Khoản Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Y P Êban từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

C n cứ điểm c Khoản Điều 9; điểm s Khoản 1 Điều 51 Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Mạnh H từ n m đến n m 6 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt từ được tính kể từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.

* Các biện pháp tư pháp:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với các đồ vật, tiền, tài sản là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. Đối với vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu tiêu hủy. Đối với vật chứng không liên quan đến việc phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Ea Kar Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Kar, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được lưu trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn thực tế khách quan. Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Do là đối tượng nghiện ma túy nên để có tiền tiêu xài và mua ma tuý sử dụng, Y P Êban đã nảy sinh ý định mua ma tuý về đem bán kiếm lời. Nên vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 30/9/2021, tại đường Lê Thị Hồng G thuộc buôn E, thị trấn E, huyện E khi Y P Êban đang đem số ma túy, có tổng khối lượng là: 0,3833gam, loại: Methamphetamine đi bán cho một đối tượng tên Th thì bị Công an huyện Ea Kar phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Đến lúc 15 giờ 40 phút cùng ngày qua quá trình mở rộng điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar còn phát hiện, thu giữ tại nơi ở là phòng thuê trọ của Trần Mạnh H thuộc buôn E, thị trấn E 01 gói ma túy, có khối lượng là: 0,2949gam, loại: Methamphetamine; Hải khai do nghiện ma tuý nên tàng trữ số ma tuý này để sử dụng.

Do đó hành vi nêu trên của bị cáo Y P Êban đã cấu thành vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Khoản 1 Điều 251 bộ luật hình sự và bị cáo Trần Mạnh H đã cấu thành vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

…

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

…

Tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.

Xét về ý thức: Các bị cáo có đầy đủ n ng lực nhận thức điều khiển hành vi các bị cáo phải biết được rằng hành vi của mình gây ra là nguy hiểm cho xã hội mặc dù nhận thức được điều đó nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội của mình. Các bị cáo cùng xâm phạm đến đến sự quản lý độc quyền của nhà nước về các chất gây nghiện và chất ma túy.

Trong vụ án này có bị cáo phạm tội được cấu thành tội danh khác nhau. Do đó tính chất mức độ hành vi phạm tội của mỗi bị cáo như sau:

+ Đối với bị cáo Y P Êban là đối tượng nghiện ma túy, muốn có tiền tiêu xài và để mua ma túy để sử dụng nên bị cáo đã mua ma túy về để mang bán kiếm lời, bị cáo phải biết được rằng ma túy là chất độc hại được nhà nước và pháp luật nghiêm cấm. Mặc dù bị cáo nhận thức được như vậy nhưng với bản chất lười lao động, bản thân bị cáo là người nghiện ma túy vì thỏa mãn mục đích cá nhân và bán ma túy để kiếm tiền lời nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Nên HĐXX cần phải xử phạt thật nghiêm đối với bị cáo để mang tính chất r n đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

+ Đối với bị cáo Trần Mạnh H cũng là đối tượng nghiện ma túy, vì thỏa mãn mục đích nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, ngoài ra bị cáo có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đã chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích, mà lại tiếp tục phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy, việc bị cáo Hải phạm tội lần này là thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết t ng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có nhân thân rất xấu. Nên HĐXX cần phải xử phạt thật nghiêm đối với bị cáo để mang tính chất r n đe và phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã thật thà khai báo n n n hối cải về các hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, khoản Điều 51 BLHS, ngoài ra đối với bị cáo Y P Êban là người đồng bào dân tộc thiểu số nên HĐXX cần áp dụng thêm khoản Điều 5 BLH đối với bị cáo là phù hợp.

Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội.

Đối với đối tượng tên Th mua ma túy của Y P Êban và đối tượng tên Cu bán ma túy cho Trần Mạnh H chưa xác minh được nhân thân, lai lịch Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Quá trình điều tra, Y P Êban khai “vào lúc 22 giờ ngày 29/9/2021, đã mua một gói ma túy của Trần Mạnh H với giá 800.000 đồng”; tuy nhiên, Trần Mạnh H không thừa nhận đã bán ma tuý cho Y P Êban. Như vậy, ngoài lời khai của Y P thì không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh Trần Mạnh H đã bán ma tuý cho Y P Êban vào ngày 29/9/2021. Vì vậy không có c n cứ để xử lý Trần Mạnh H về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Các biện pháp tư pháp:

C n cứ điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Khoản điểm b, c Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng 0,5608gam, loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định và 01 vỏ chai nước ngọt hiệu Rồng đỏ.

+ Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước điện thoại di động Iphone, màu trắng gắn sim điện thoại 9 .568.8 9 đã thu giữ của Y P Êban đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

+ Trả lại điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, gắn sim điện thoại số 0833.477.744 thu giữ của Trần Mạnh H đây là tài sản cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội.

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar đã trả lại 01 xe mô tô biển số 47H1-167.09 cho bà H L Mlô là chủ sở hữu hợp pháp.

Về án phí: Áp dụng Khoản Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Y P Êban phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

I.Hình phạt chính:

C n cứ: Khoản Điều 251 Bộ luật hình sự; điểm s Khoản 1, Khoản Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Y P Êban (Hai) n m 9 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 30/9/2021.

C n cứ điểm c Khoản Điều 249 Bộ luật hình sự điểm s khoản Điều 51, điểm h khoản Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Trần Mạnh H (Hai) n m 6 ( áu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ tạm giam ngày 30/9/2021.

II. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

Các biện pháp tư pháp:

* Về xử lý vật chứng: C n cứ điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Khoản điểm b, c Khoản 2, Khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy: Khối lượng 0,5608gam, loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định và 01 vỏ chai nước ngọt hiệu Rồng đỏ.

+ Tịch thu, sung công quỹ Nhà nước điện thoại di động Iphone, màu trắng gắn sim điện thoại 0941.568.829.

+ Trả lại điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu hồng, gắn sim điện thoại số 0833.477.744 cho bị cáo Trần Mạnh H.

Các vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/03/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ea Kar.

+ Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Kar đã trả lại 01 xe mô tô biển số 47H1-167.09 cho bà H L Mlô là chủ sở hữu hợp pháp.

Về án phí: Áp dụng Khoản Điều 5 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a Khoản Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Y P Êban và bị cáo Trần Mạnh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định là 5 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ