vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa_Vũng Tàu Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc P - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày 20-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Anh Đắc

2. Ông Lê Văn Khoe.

Thư ký phiên toà: Bà Đậu Thị Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Trần Hồng Gấm - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 01 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 336/2021/HS-ST ngày 17 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/QĐXX-ST ngày 10 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Ngọc P, sinh năm 1987 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu: Đường BT, Phường MM, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hữu Đ (sinh năm 1949) và bà Đỗ Thị Bích H (sinh năm 1957); Vợ là Dương Thanh Th (sinh năm 1991, đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

+ Ngày 21-11-2006 bị Toà án nhân dân thành phố V xử phạt 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 39/2006/HSST. Đã đóng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

+ Ngày 28-12-2010, bị Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt hành chính, hình phạt tiền, mức phạt là 1.500.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21-9-2021.

(Bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án “Đánh bạc” từ ngày 06-6-2021 đến ngày 27-7-2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn sang Bảo lĩnh).

Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21-9-2021, tại trước nhà số 576 Đường BT, phường R, thành phố V, Công an phường R, thành phố V phát hiện, bắt quả tang Lê Ngọc P đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine), đồng thời thu giữ vật chứng và tài sản liên quan trong vụ án.

Sau khi lập hồ sơ ban đầu, công an phường R, thành phố V đã chuyển đối tượng, hồ sơ vụ án cùng vật chứng và các tài sản đã thu giữ đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra P khai nhận: Trong thời gian cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V áp dụng biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh đối với bị can Lê Ngọc P về tội “Đánh bạc” để chờ ngày xử lý theo quy định của Pháp luật. Do nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ 00 phút ngày 21-9-2021, P đến khu vực Ngã Tư Giếng Nước, thành phố V gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) mua một gói ma tuý đá (methamphetamine) với giá 500.000 đồng. Sau khi mua ma tuý xong, P cất giấu trong người rồi đến nhà bạn của mình là anh Trần Đình Gi ở địa chỉ: HT, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chở anh Gi về nhà của P để sửa chữa lại mái nhà của mình. Khi đến trước nhà số 576 Đường BT, phường R, thành phố V thì Gi bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang thu giữ gói ma tuý trong túi quần của P.

Lời khai của P phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, chứng cứ thu thập được và lời khai của anh Phạm Gia H, anh Trân Đình Gi là người chứng kiến.

Tại Kết luận giám định số 474/KLGĐ-PC09 (Đ9) ngày 28-9-2021 của Phòng Kỹ thuật Hình sự, Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu – trong suốt chứa trong 01 gói nylon hàn kín, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường R – Công an thành phố V, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cùng các chữ ký ghi họ tên của những người tham gia, gửi đến giám định có khối lượng 0,6608 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.

Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật:

+ 01 (Một) gói nylon màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất kết tinh không màu, có khối lượng 0,6608 gam, là chất ma tuý, loại methamphetamine.

+ 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus, màu hồng, số Imei: 35811082849186.

Toàn bộ số vật chứng trên đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển đến Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố V quản lý, chờ xử lý.

Đối với người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) bán ma túy cho P, cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định của Pháp luật.

Đối với Trần Đình Gi, tuy đi cùng với P nhưng không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của P nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V không khởi tố.

Tại Cáo trạng số 07/CT-VKSVT ngày 14-12-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố Lê Ngọc P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định ta ̣i điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc P từ 24 (Hai mươi tư) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 9 năm 2021.

+ Xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy có trong gói niêm phong đề số đề số 474/KLGĐ-PC09-MT ngày 28-9-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus, màu hồng số Imei: 35811082849186.

+ Hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời sau cùng: Bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được giảm nhẹ một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong vụ án này đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 21-9-2021, tại trước nhà số A Đường BT, phường R, thành phố V. Cơ quan chức năng đã bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép 0,6608 gam ma túy, loại Methamphetamine. Bị cáo tàng trữ số ma túy này nhằm sử dụng cho bản thân.

Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đúng như quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V.

Tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra:

Hành vi bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị, xã hội tại địa phương. Khi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, cần có một hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng:

+ Chất ma túy có trong gói niêm phong đề số 474/KLGĐ-PC09-MT ngày 28-9-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

+ 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus, màu hồng số Imei: 35811082849186 là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

́

QUYÊT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016,

1. Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc P 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21 tháng 9 năm 2021.

2. Xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy có trong gói niêm phong đề số đề số 474/KLGĐ-PC09-MT ngày 28-9-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

- Trả lại cho bị cáo: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 7Plus, màu hồng số Imei: 35811082849186.

(Vật chứng đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố V theo Biên bản giao nhận vật chứng số 49/ BB.CCTHA ngày 21 tháng 12 năm 2021).

3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (đối với người có mặt tại phiên tòa); tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai (đối với người vắng mặt tại phiên tòa), để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục Pc thẩm.

̀

̉

TM. HỘI ĐÔNG XÉ T XỬ SƠ THÂM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ