vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng Tuyên án 16/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 615MT/PC09 chứa chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự h…

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 615MT/PC09 chứa chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự h…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦY NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

----------------------------------------------------------------------------------------------------
Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày: 16-3-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Văn Sóng

Ông Doãn Văn Sáng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hậu, Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương, Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:

Chu Thành C, sinh ngày 16 tháng 12 năm 1988 tại thành phố Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn 8, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Chu Quang K (đã chết) và con bà Bùi Thị N, sinh năm 1952; Đã ly hôn chị Trương Thị C và có 01 con; Tiền án: Bản án số 66/2014/HSST ngày 24/6/2014 của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 10 năm tù về hai tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/11/2020, đã thi hành án phí hình sự và tiền phạt sung quỹ nhà nước; Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/11/2021 đến ngày 19/11/2021 chuyển tạm giam; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma túy đá nên khoảng 10 giờ ngày 13/11/2021 Chu Thành C một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 15G1-822.67 sang khu vực đường tàu nội thành Hải Phòng gặp và mua của một người đàn ông không quen biết được 01 túi ma tuý với giá 200.000 đồng, cất giấu ma tuý tại túi quần phía trước bên trái với mục đích để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày khi Chu Thành C đi qua khu vực đường liên xã thuộc địa phận thôn Phố Mới, xã Phù Ninh, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng thì bị Công an kiểm tra phát hiện, bắt quả tang Chu Thành C có biểu hiện cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần phía trước bên trái của Chu Thành C 01 túi nilon màu trắng trong suốt bên trong chứa tinh thể màu trắng và tạm giữ 01 xe mô tô biển kiểm soát 15G1-822.67. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Chu Thành C không thu giữ đồ vật, tài sản gì liên quan. Tại bản Kết luận giám định số 615/KLGĐ-MT ngày 17/11/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Tinh thể màu trắng thu giữ của Chu Thành C là ma túy, có khối lượng 0,22 gam, loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án: 01 phong bì niêm phong số 615MT/PC09 chứa chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định.

Cáo trạng số 26/CT-VKSTN ngày 21 tháng 02 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Chu Thành C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo trình bày đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và đồng ý với tội danh mà Kiểm sát viên luận tội, kết tội đối với bị cáo và đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Kiểm sát viên đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Chu Thành C với mức án từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

- Về tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều hợp pháp.

- Về tội phạm mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo:

Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận như sau: Ngày 13/11/2021 bị cáo Chu Thành C có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy, có khối lượng 0,22 gam, là loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang tại thôn Phố Mới, xã Phù Ninh, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Nên hành vi của bị cáo Chu Thành C đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 26/CT-VKSTN ngày 21 tháng 02 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên truy tố bị cáo như đã nêu trên và lời luận tội, kết tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng pháp luật.

- Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và hình phạt áp dụng:

Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm đã xâm phạm chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước về chất ma tuý gây mất trật tự trị an xã hội.

Bị cáo đã bị kết án theo bản án số 66/2014/HSST ngày 24/6/2014 của Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xử phạt 10 năm tù về hai tội Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý đến nay chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên bị cáo đã tái phạm, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, có cha mẹ đẻ là người có công với nhà nước do đó bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo đã bị kết án và chưa được xoá án tích nên xác định bị cáo có nhân thân xấu.

Về mức hình phạt áp dụng: Phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, như vậy mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.

Tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định hình phạt bổ sung, do bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tài sản, thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về những vấn đề khác:

Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 615MT/PC09 chứa chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành, liên quan đến tội phạm và không còn giá trị sử dụng.

Trong vụ án này: Xe mô tô biển kiểm soát 15G1-822.67 tạm giữ của Chu Thành C, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên do bà Bùi Thị N, sinh năm 1952, trú tại thôn 8, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng nhờ Chu Thành C đứng tên làm thủ tục mua trả góp và đăng ký xe, hiện chưa thu thập được tài liệu mua bán xe nên Cơ quan điều tra tách ra làm rõ xử lý sau. Người bán ma túy cho Chu Thành C quá trình điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ nên không có cơ sở xử lý.

Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Chu Thành C 30 (ba mươi) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ ngày 14/11/2021.

Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 615MT/PC09 chứa chất ma túy và vỏ bao bì còn lại sau giám định (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng).

Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Chu Thành C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ