vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang Tuyên án 09/03/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hiếu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hiếu N: 06 (sáu) năm t . Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chấp ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày 09/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lại Hiệp Phong.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Ngọc Nguyên;

Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Kiệt - Thư ký Tòa án nhân thành

phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An

Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long

Xuyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2022/TLST-HS ngày

06 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2022/QĐXXST-

HS ngày 21 tháng 01 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2022/HSST-

QĐ ngày 26 tháng 02 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Hiếu N, sinh năm 1999, tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An

Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: số 14A, đường Trần Nhật Duật, khóm 7,

phường L, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ

văn hoá (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Đạo Phật; quốc

tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Phạm Thị N; chung sống như vợ

chồng với Phạm Hồng T; có 01 người con sinh năm 2016;

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 23/9/2017, bị Ủy ban nhân dân phường L, thành phố

Long Xuyên ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường thời hạn 03

tháng, chấp hành xong ngày 22/12/2017;

Bị bắt tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh An Giang từ ngày

21/7/2021 cho đến nay; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Hồ Chí C, sinh năm 1994; nơi cư trú: ấp H A, thị trấn E, huyện

Thoại Sơn, tỉnh An Giang; có mặt.

- Ông Bùi Sơn Nam, sinh năm 1951; nơi cư trú: số 23/6, khóm H, phường

T, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 21 tháng 7 năm 2021, nhận được tố giác tội

phạm của quần chúng nhân dân, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh An Giang kiểm tra xe mô tô biển số 67B1-347.57 do Nguyễn Thị Hiếu N điều khiển trên đường Nguyễn Văn Linh, thuộc khóm Đông Thịnh 8, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên. Qua kiểm tra, phát hiện trên baga xe có 01 cuộn giấy màu trắng, quấn dây thun màu xanh, bên trong có 01 gói nylon, một đầu có rãnh kẹp viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng; trong túi quần Jean bên phải, phía trước của Nhi có 02 gói nylon, một đầu có rãnh kẹp viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng. Nhi khai nhận chất tinh thể màu trắng trong gói nylon là ma túy đá, mang theo để sử dụng nên lực lượng Công an dẫn giải Nhi đến Công an phường Mỹ Phước lập biên bản và thu giữ vật chứng.

Vật chứng và tài sản thu giữ gồm:

- 03 gói nylon có rãnh kẹp viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám;

- 01 xe mô tô gắn biển số 67B1-347.57, số khung

RLCUG0610HY514765, số máy G3D4E-537590;

- Số tiền 1.060.000 đồng.

Đến khoảng 19 giờ 10 phút ngày 21 tháng 7 năm 2021, Cơ quan Cảnh sát

điều tra Công an tỉnh An Giang khám xét khẩn cấp nơi ở của Nhi tại phòng số 07, nhà nghỉ 89, thuộc tổ 141, khóm Đông Thịnh 8, phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên. Qua khám xét, phát hiện, thu giữ vật chứng và tài sản, gồm:

- 01 bình nhựa màu trắng có nắp vàng đục, có 02 lỗ gắn ống hút nhựa

màu đen;

- 01 nỏ thủy tinh;

- 01 túi vải màu đỏ;

- 01 cây cân màu xám;

- 01 cây kéo bằng kim loại màu xám;

- 01 đoạn ống hút màu đen;

- 02 đoạn ống hút màu tím, được cắt xéo một đầu;

- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67B2-381.05 mang tên

Nguyễn Thị Hiếu N;

- 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Hiếu N.

Kết luận giám định số 190/KLGĐ-PC09(MT) ngày 25/7/2021 của Phòng

Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, xác định: 01 hộp giấy màu trắng niêm

phong có in dấu đỏ của Công an phường Mỹ Phước và các chữ ký ghi tên

Nguyễn Quyết Thắng, Lê Văn Nhường, Nguyễn Thị Hiếu N, bên trong có 01

gói nylon có rãnh kẹp viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định là

ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 9,8484 gam; 01 hộp giấy màu trắng

niêm phong có in dấu đỏ của Công an phường Mỹ Phước và các chữ ký ghi tên

Nguyễn Quyết Thắng, Lê Văn Nhường, Nguyễn Thị Hiếu N, bên trong có 02

gói nylon có rãnh kẹp viền màu đỏ chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định là

ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,8002 gam;

Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSLX-HS ngày 04 tháng 01 năm 2022, Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Hiếu N

về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều

249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội

dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của

Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hồ Chí C cung

cấp lời khai như trong giai đoạn điều tra. Tại phiên tòa, ông Cường xác đinh đã

nhận lại xe mô tô biển số 67B1-347.57 nên không có yêu cầu giải quyết.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa

phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, ph hợp với các tài liệu,

chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Cáo

trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo về tội

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ

luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng

người, đúng tội và đúng pháp luật. Do đó, về hình phạt: đề nghị áp dụng điểm g

khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị

cáo từ 07 năm đến 08 năm t .

Về xử lý vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106

Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy: 02 hộp giấy niêm phong (vụ số 190/KLGĐ-

PC09(MT) ngày 25 tháng 7 năm 2021) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh

sát điều tra Công an Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng

Khoa, Nguyễn Quyết Thắng, bên trong có ma túy, loại Methamphetamine còn lại

sau giám định, có tổng khối lượng 12,524 gam; 01 bình nhựa màu trắng có nắp vàng đục, có 02 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen; 01 nỏ thủy tinh; 01 túi vải màu đỏ; 01 cây cân màu xám; 01 cây kéo bằng kim loại màu xám; 01 đoạn ống hút màu đen; 02 đoạn ống hút màu tím, được cắt xéo một đầu;

- Trả lại cho bị cáo Nhi: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số

67B2-381.05 mang tên Nguyễn Thị Hiếu N; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Hiếu N; số tiền 1.060.000 đồng.

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu

Samsung màu xám của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Long Xuyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm hình sự: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp

với lời khai của bị cáo ở giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 21/7/2021 do Công an phường Mỹ Phước lập; Kết luận giám định số 190/KLGĐ-PC09(MT) ngày 25 tháng 7 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh An Giang, xác định: 01 hộp giấy niêm phong có in dấu đỏ của Công an phường Mỹ Phước và các chữ ký ghi tên Nguyễn Quyết Thắng, Lê Văn Nhường, Nguyễn Thị Hiếu N, bên trong có 01 gói nylon có rãnh kẹp viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 9,8484 gam; 01 hộp giấy niêm phong có in dấu đỏ của Công an phường Mỹ Phước và các chữ ký ghi tên Nguyễn Quyết Thắng, Lê Văn Nhường, Nguyễn Thị Hiếu N, bên trong có 02 gói nylon có rãnh kẹp viền màu đỏ, chứa tinh thể màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,8002 gam; phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác được lưu trong hồ sơ vụ án.

Trong vụ án này, bị cáo Nhi khai gói ma túy có khối lượng 9,8484 gam,

Methamphetamine là của Trân nhờ bị cáo vận chuyển để giao cho người không rõ nhân thân. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác. Cho nên, trách nhiệm hình sự không đặt ra đối với bị cáo về hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy nhưng bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng này là phù hợp với quy định pháp luật.

Từ các căn cứ trên có cơ sở xác định, bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái

phép chất ma túy với tổng khối lượng là 12,6486 gam, Methamphetamine để

sử dụng.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm

hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là xâm phạm chế độ

độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước nhưng vẫn cố ý thực hiện

thông qua việc cất giấu ma túy và sự thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa. Vì vậy,

hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”

được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa

đổi, bổ sung năm 2017.

Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên

truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm

sát nhân dân thành phố Long Xuyên đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ,

đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân, ma tuý là chất

gây nghiện. Một khi đã sử dụng thì khó có thể từ bỏ được. Chúng được xem là

những nguyên nhân làm suy giảm sức khỏe, suy thoái nòi giống, phá hoại hạnh

phúc gia đình. Tệ nạn ma tuý còn được xem là nguyên nhân làm phát sinh các tệ

nạn xã hội, làm lan truyền đại dịch HIV/AIDS và còn là cơ sở phát sinh nhiều

tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng trật tự, an toàn xã hội.

Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ sức khỏe, đang ở tuổi lao động

nhưng lại lao vào con đường nghiện ngập. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho

xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy

mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện. Do đó, cần có hình phạt tương xứng,

cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo mục đích

răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành

khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét, giảm nhẹ trách

nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo không có nghề nghiệp, có hoàn cảnh

kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ

án, đối với Trân, Minh, Ngô Văn Phát: bị cáo khai nguồn ma túy lực lượng

Công an tuần tra phát hiện thu giữ trên baga xe mô tô, trong túi quần Jean bị cáo

là của Trân, Minh, Phát. Hiện tại, Trân, Minh không rõ nhân thân. Riêng, Phát

không rõ đang ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long

Xuyên làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định pháp luật.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- Đối với 02 hộp giấy niêm phong (vụ số 190/KLGĐ-PC09(MT) ngày 25

tháng 7 năm 2021) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Quyết Thắng, bên trong có ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định, có tổng khối lượng 12,524 gam là vật cấm lưu hành; 01 bình nhựa màu trắng có nắp vàng đục, có 02 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen; 01 nỏ thủy tinh; 01 túi vải màu đỏ; 01 cây cân màu xám; 01 cây kéo bằng kim loại màu xám; 01 đoạn ống hút màu đen; 02 đoạn ống hút màu tím, được cắt xéo một đầu là vật dụng được dùng vào việc phân nhỏ, sử dụng ma túy, có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội và không còn giá trị sử dụng. Xét, tịch thu tiêu hủy lượng ma túy, các vật dụng này theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu xám, bị cáo khai

đã sử dụng điện thoại di động này liên lạc để mua ma túy nên là công cụ phạm tội. Xét, tịch thu, nộp ngân sách nhà nước điện thoại di động bị thu giữ theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với số tiền 1.060.000 đồng; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô

biển số 67B2-381.05 mang tên Nguyễn Thị Hiếu N; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Hiếu N không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo. Xét, giao trả lại cho bị cáo theo điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với xe mô tô gắn biển số 67B1-347.57, có số khung

RLCUG0610HY514765, số máy G3D4E-537590, bị cáo khai, xe mô tô này của Ngô Văn Phát (Duy Bảy, là bạn của Nhi) đưa cho bị cáo mượn sử dụng. Tuy nhiên, theo Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 06/9/2021 và ngày 23/12/2021 của Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ - Công an tỉnh An Giang, xe mô tô bị thu giữ có số máy JA211E0086728, số khung MLHJA2114C5086728, chủ sở hữu là B i Sơn Nam; địa chỉ: số 23/6, khóm H, phường T, thành phố Long Xuyên; xe mô tô gắn biển số 67M1-480.88, có số máy G3D4E537590, số khung RLCUG0610HY514765, chủ sở hữu là Hồ Chí C; địa chỉ: ấp H A, thị trấn E, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Bên cạnh đó, theo lời khai nhận Hồ Chí C, vào năm 2017, Cường có mua xe mô tô biển số 67M1-480.88, có số máy G3D4E537590, số khung RLCUG0610HY514765. Ngày 22/9/2020, Cường điều khiển xe mô tô này đến khu vực phường Mỹ Bình, thành phố Long Xuyên uống cà phê thị bị mất trộm. Theo Kết luận giám định số 139/KLGT-PC09 (KT) ngày 25/9/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh An Giang xác định: xe mô tô biển số 67B1-347.57, có số máy G3D4E537590, số khung RLCUG0610HY514765, có số khung, số máy không bị cắt hàn, không bị đục sửa, không bị hoen gỉ, không bị tẩy xóa và theo tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an – thành phố Long Xuyên thu

thập được thể hiện trong hồ sơ vụ án là Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe

gắn máy, biển số 67M1-480.88, có số máy G3D4E537590, số khung

RLCUG0610HY514765 tên chủ sở hữu là Hồ Chí C; địa chỉ: ấp H A, thị trấn E,

huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Như vậy, có căn cứ xác định xe mô tô bị thu giữ là tài sản hợp pháp của

ông Cường đã bị mất trộm vào năm 2020 nên giao trả lại cho ông Cường xe mô

tô bị thu giữ theo điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên,

Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố Long Xuyên đã khởi tố vụ án

hình sự số 47/QĐ-CQCSĐT-HS ngày 08/02/2021 xảy ra ngày 22/9/2020 về tội

“Trộm cắp tài sản” đối với vụ việc bị mất của ông Cường bằng một vụ án khác

và đã chuyển giao xe mô tô gắn biển số 67B1-347.57, có số khung

RLCUG0610HY514765, số máy G3D4E-537590 trong vụ án này thành vật

chứng chứng minh cho tội phạm, người phạm tội trong vụ án “Trộm cắp tài sản”

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/12/2021 giữa Đội Cảnh sát điều tra

tội phạm về ma túy - Công an thành phố Long Xuyên với Đội Cảnh sát hình sự -

Công an thành phố Long Xuyên).

Tại phiên tòa, ông Cường xác định đã nhận lại tài sản và không có yêu

cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

Đối với biển số xe 67B1-347.57 do B i Sơn Nam; địa chỉ: số 23/6, khóm

H, phường T, thành phố Long Xuyên đứng tên chủ sở hữu và trong giai đoạn

điều tra không ghi nhận được ý kiến. Như đã phân tích nêu trên thì biển số xe bị

thu giữ đã chuyển giao cùng với xe mô tô bị thu giữ để phục vụ công tác điều tra

trong vụ án “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết

trong vụ án này.

Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí

hình sự sơ thẩm.

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền

kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38

Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Hiếu N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất

ma túy”;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hiếu N: 06 (sáu) năm t .

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm

giam, ngày 21/7/2021 (ngày hai mươi mốt, tháng bảy, năm hai nghìn không

trăm hai mươi mốt).

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Tịch thu, tiêu hủy: 02 hộp giấy niêm phong (vụ số 190/KLGĐ-

PC09(MT) ngày 25 tháng 7 năm 2021) có in dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Công an tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Đăng Khoa, Nguyễn Quyết Thắng, bên trong có ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định, có tổng khối lượng 12,524 gam; 01 bình nhựa màu trắng có nắp vàng đục, có 02 lỗ gắn ống hút nhựa màu đen; 01 nỏ thủy tinh; 01 túi vải màu đỏ; 01 cây cân màu xám; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng; 01 đoạn ống hút màu đen; 02 đoạn ống hút màu tím, được cắt xéo một đầu;

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu

Samsung màu xám;

- Giao trả cho bị cáo Nguyễn Thị Hiếu N: Số tiền 1.060.000 đồng (Theo

giấy nộp tiền mặt số 14616805 ngày 23/09/2021 do Cán bộ Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Long Xuyên nộp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh An Giang); 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 67B2-381.05 mang tên Nguyễn Thị Hiếu N; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Thị Hiếu N;

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/01/2022 giữa Cơ quan Cảnh

sát điều tra Công an thành phố Long Xuyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Hiếu N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng

án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự

năm 2015;

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Nhi, người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Hồ Chí C có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến

vụ án vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9

Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại

Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ