vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái Tuyên án 10/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Tiến Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Phan Tiến Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 31 tháng 12 năm 2021). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Tiến Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Tiến Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĂN YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày 10-5-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN YÊN, TỈNH YÊN BÁI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Ngô Thị Hoa;

2. Ông Vũ Tùng Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2022, đối với bị cáo:

Phan Tiến Đ, sinh ngày 23 tháng 01 năm 1986 tại VY, tỉnh Yên Bái;

Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn B, huyện VY, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phan Tiến M (đã chết) và bà Đỗ Thị S; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Về nhân thân: Năm 2011 bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 560, ngày 21/7/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái đến ngày 26/7/2013 chấp hành xong; Năm 2017 tiếp tục bị Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 06, ngày 08/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái, đến ngày 16/6/2019 chấp hành xong (đã được xóa tiền sự). Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31 tháng 12 năm 2021, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện VY, tỉnh Yên Bái; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Trần Gia T, sinh năm 1978;

Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn B, huyện VY, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn G, sinh năm 1993; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nghiện chất ma túy. Nên khoảng 20 giờ, ngày 30-12-2021, Trần Gia T sinh năm 1978 cư trú tại tổ dân phố số A, thị trấn B, huyện VY, tỉnh Yên Bái gọi điện rủ Phan Tiến Đ góp tiền đi mua ma tuý về sử dụng. T nói với Đ mình đã có 200.000 đồng, Đ đồng ý và bảo mình có 500.000 đồng. Sau khi gọi điện, T điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 21V7-9587 của mình đến đón Đ rồi cả hai cùng nhau đi sang xã AT, huyện VY, tỉnh Yên Bái. Khi đi đến khu vực thôn P, xã AT, huyện VY, tỉnh Yên Bái, Đ bảo T xuống xe và đứng đợi ở đó, để Đ một mình đi mua ma túy. T đưa cho Đ 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng và nói “Lấy hộ anh cái 200.000 đồng nhé”. Đ đồng ý, nhận tiền, sau đó điều khiển xe mô tô của T đi đến khu vực ngã ba, một đường đi xã Đ, một đường đi xã TH. Tại đây Đ gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ, Đ hỏi người đàn ông này “Anh để cho em mấy cái hàng” (ý của Đ là hỏi mua mấy gói ma túy), người đàn ông hỏi Đ “Mua bao nhiêu tiền” thì Đ trả lời “Em mua 700.000 đồng” rồi lấy tiền đưa cho người đàn ông, người này nhận tiền và đi khoảng 05 phút thì quay lại, đưa cho Đ 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 04 gói ma túy được gói bằng giấy trắng, Đ nhận gói ma túy, cầm ở tay rồi điều khiển xe quay lại chỗ T đứng đợi. Đến 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi Đ quay lại gặp T thì bị Tổ tự quản về an ninh trật tự số 3, cụm dân cư thôn AP, xã AT, huyện VY, tỉnh Yên Bái phối hợp với Công an xã AT, huyện VY, tỉnh Yên Bái bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ một số vật chứng, gồm:

Tại mặt đường gần vị trí Phan Tiến Đ đứng 01 gói nilon màu trắng, bên trong có 04 gói giấy, mở ra bên trong mỗi gói giấy đều có chất bột nén màu trắng, nghi là ma túy loại Heroine;

Thu giữ trên người Phan Tiến Đ 03 xilanh nhựa loại 3ml/cc, 02 ống nước cất loại NOVOCAIN 3%; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ máy màu đen, bàn phím nổi, màn hình màu, điện thoại cũ đã qua sử dụng;

Thu giữ trên người Trần Gia T 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu xanh đen, màn hình cảm ứng điện thoại cũ đã qua sử dụng và tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ - đen, mang Biển kiểm soát: 21V7-9587 xe cũ đã qua sử dụng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã tiến hành trưng cầu giám định đối với vật chứng nghi là Heroine đã thu giữ khi bắt quả tang Phan Tiến Đ. Tại Biên bản mở niêm phong và giao, nhận đối tượng giám định lập hồi 08 giờ 30 phút, ngày 31/12/2021 tại phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái xác định:

“...01 gói nilon màu trắng bên trong có 04 gói giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong mỗi gói giấy đều có chứa chất bột nén màu trắng. Khối lượng chất bột nén màu trắng trong gói giấy thứ nhất là: 0,045 gam; Khối lượng chất bột nén màu trắng trong gói giấy thứ hai là: 0,045 gam; Khối lượng chất bột nén màu trắng trong gói giấy thứ ba là: 0,04 gam; Khối lượng chất bột nén màu trắng trong gói giấy thứ tư là: 0,05 gam. Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng trong 04 gói giấy nói trên là: 0,18 gam...”

Tại bản Kết luận giám định số 55, ngày 06/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:

- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Phan Tiến Đ có tổng khối lượng là 0,18 gam.

- 0,08 gam trích từ 0,18 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.

Heroine nằm trong Danh mục I, STT: 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Tại các biên bản xét nghiệm chất ma túy lập ngày 31/12/2021 tại Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái xác định Phan Tiến Đ và Trần Gia T dương tính với ma túy loại Heroine.

Cáo trạng số 22/CT-VKS-VY ngày 13 tháng 4 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái truy tố: Phan Tiến Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

* Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Tiến Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phan Tiến Đ từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý đối với vật chứng.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ máy màu đen, bàn phím nổi, màn hình màu, điện thoại cũ đã qua sử dụng bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- 03 xilanh nhựa loại 3ml/cc; 02 ống nước cất loại NOVOCAIN 3% là dụng cụ bị cáo dùng để sử dụng ma tuý, cần tịch thu tiêu huỷ.

- 0,1 gam Heroine được hoàn lại sau khi trích mẫu giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Bị cáo Phan Tiến Đ khai báo thành khẩn và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện VY, tỉnh Yên Bái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản tự khai và lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án và xem xét tại phiên tòa. Như vậy đã có đủ cơ sở xác định: Do nghiện chất ma túy, Trần Gia T và Phan Tiến Đ đã rủ nhau góp tiền đi mua ma túy về để sử dụng. Hồi 21 giờ 30 phút ngày 30-12-2021, tại thôn AP, xã AT, huyện VY, tỉnh Yên Bái, Đ và T bị bắt quả tang khi Đ đang tàng trữ trái phép 04 gói Heroine có tổng khối lượng 0,18 gam. Trong vụ án này Phan Tiến Đ là người trực tiếp đi mua ma túy cho bản thân và mua hộ Trần Gia T, nên bị cáo Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng chất ma túy đã mua.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phan Tiến Đ phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Đối với Trần Gia T phải chịu trách nhiệm về khối lượng chất ma túy đã nhờ Phan Tiến Đ mua hộ, tuy nhiên trong 04 gói ma túy bị thu giữ khi bắt quả tang không có gói nào có khối lượng từ 0,1 gam trở lên, nên không đủ căn cứ để xử lý hình sự. Công an huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái đã ra Quyết định số 09, ngày 08/3/2022 xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Gia T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thông báo cho chính quyền địa phương biết để giáo dục, quản lý là phù hợp.

Xét tính chất, mức độ phạm tội, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Hành vi của bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ, lên án và cũng là nguyên nhân, làm gia tăng các loại tội phạm khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo trước pháp luật.

Về nhân thân: Phan Tiến Đ đã 02 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, cụ thể: Năm 2011 bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 560, ngày 21/7/2011 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái đến ngày 26/7/2013 chấp hành xong; Năm 2017 tiếp tục bị Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Quyết định số 06, ngày 08/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện VY, tỉnh Yên Bái, đến ngày 16/6/2019 thì chấp hành xong (đã được xóa tiền sự). Bị cáo không lấy đó làm bài học, vẫn tiếp tục nghiện ma túy nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Thể hiện ý thức tu dưỡng, rèn luyện bản thân của bị cáo là rất kém.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Tiến Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đây là tình tiết giảm nhẹ Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng: Cần áp dụng với bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và nhân thân bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và răn đe phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, lao động tự do, không có thu nhập, không có tài sản. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Phan Tiến Đ do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý trong vụ án.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu REALME màu xanh đen, màn hình cảm ứng, điện thoại cũ đã qua sử dụng và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đỏ - đen, mang Biển kiểm soát: 21V7-9587 là tài sản hợp pháp của Trần Gia T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VY, tỉnh Yên Bái đã quyết định xử lý bằng hình thức trả lại cho Trần Gia T là phù hợp.

Về vật chứng: Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng:

Về vật chứng của vụ án:

- 03 xilanh nhựa loại 3ml/cc; 02 ống nước cất loại NOVOCAIN 3% không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

- 0,1 gam Heroine được hoàn lại sau khi trích mẫu giám định là vật cấm lưu hành cần tịch thu tiêu huỷ.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ máy màu đen, bàn phím nổi, màn hình màu, điện thoại cũ đã qua sử dụng bị cáo đã liên lạc thực hiện hành vi phạm tội cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Những nội dung đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử được chấp nhận.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Tiến Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Phan Tiến Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 31 tháng 12 năm 2021).

3. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 0,1 gam Heroine được hoàn lại sau khi trích mẫu giám định; 01 phong bì (sau khi mở niêm phong) do phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái phát hành, mặt trước ghi: Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Phan Tiến Đ, sinh năm 1986 - Tàng trữ trái phép chất ma tuý xảy ra tại thôn AP, xã AT, huyện VY, tỉnh Yên Bái ngày 30/12/2021 (sau khi đã trích mẫu giám định), mặt sau phong bì được dán kín có chữ ký, họ tên của Nguyễn Đức P, Nguyễn Anh Đ, Trần Ngọc Q, Đỗ Đức Q, Hoàng Đình H và 04 hình dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái; 03 ống xilanh nhựa loại 3ml/cc chưa qua sử dụng; 02 ống nước cất trên bề mặt có chữ NOVOCAIN 3%.

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ máy màu đen, bản phím nổi, màn hình màu, điện thoại cũ đã qua sử dụng, không kiểm tra chi tiết máy.

( Các vật chứng trên theo Biên bản giao nhận vật chứng số 28, ngày 28 tháng 4 năm 2022, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VY, tỉnh Yên Bái và Chi cục Thi hành án dân sự huyện VY, tỉnh Yên Bái).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Tiến Đ phải chịu là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án (phần có liên quan) trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ