vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên Tuyên án 17/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Bị cáo Quàng Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Về hình phạt: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2021. Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Bị cáo Quàng Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUẦN GIÁO
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày: 17/01/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Việt Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý A Thu và ông Trần Mạnh Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Lượng, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên tòa: Bà Nông Thị Vân, Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 19/2021/TLST-HS ngày 24 tháng 12 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn Q; tên gọi khác: Không.

Sinh ngày: 15/10/1980, tại: Xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên.

Nơi cư trú: Bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Lớp 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quàng Văn X, sinh năm 1945 và con bà Lường Thị M, sinh năm 1948; bị cáo có vợ là Lường Thị B, sinh năm 1983 và có 02 người con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử tại Bản án số: 12/HS-ST ngày 17/12/2010 tuyên phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, ngày 27/01/2018 chấp hành xong án phạt tù đến nay đã được xóa án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/10/2021, tạm giam ngày 14/10/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 10/10/2021 bị cáo Quàng Văn Q đi bộ từ nhà ở bản N, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên đến khu vực trường cấp 1, 2 thuộc bản N, xã Q để tìm mua ma túy sử dụng thì gặp một người đàn ông không quen biết, bị cáo hỏi người đàn ông đó “có Heroine bán không”, người đàn ông đó nói “còn một ít bán ba trăm nghìn”. Bị cáo đồng ý mua nên lấy ra 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đưa cho người đàn ông đó. Sau khi nhận tiền người đàn ông lấy trong túi áo ra đưa cho bị cáo 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng, bị cáo nhận Heroine cho vào trong túi quần đi về nhà lấy dao lam chia số Heroine vừa mua được thành 03 phần rồi lấy nilon gói lại (trong đó có 02 gói Heroine gói bằng nilon màu trắng và 01 gói Heroine gói bằng nilon màu hồng). Sau khi gói xong bị cáo cho 01 gói Heroine gói bằng nilon màu trắng vào trong 01 túi nilon màu xanh; cho gói Heroine gói bằng nilon màu hồng vào trong chiếc tất màu vàng và cất giấu toàn bộ số Heroine vào túi quần bên phải đang mặc trên người. Đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 11/10/2021 khi phát hiện thấy tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đến nhà bị cáo đã lấy chiếc tất màu vàng bên trong đựng 01 gói Heroine màu hồng ném qua cửa sổ ra đằng sau vườn nhà, còn 02 gói Heroine có tổng khối lượng 1,29 gam bị cáo tự giác giao nộp cho tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo. Đến 12 giờ 15 phút ngày 11/10/2021 Công an huyện Tuần Giáo tiến hành khám xét khẩn cấp người, nơi ở của bị cáo Quàng Văn Q, phát hiện, thu giữ tại góc vườn đằng sau nhà bị cáo 01 chiếc tất màu vàng, bên trong có 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng, có khối lượng 2,76 gam. Tổng khối lượng 4,05 gam Heroine Công an thu giữ của bị cáo Quàng Văn Q nhằm mục đích sử dụng. Cơ quan điều tra đã thu giữ khối lượng 1,29 gam Heroine, trích 0,27 gam làm mẫu vật gửi giám định, vật chứng còn lại 1,02 gam Heroine và khối lượng 2,76 gam Heroine, trích 0,12 gam làm mẫu vật gửi giám định, vật chứng còn lại 2,64 gam Heroine.

Tại bản Kết luận giám định số: 1177/GĐ-PC09 ngày 21/10/2021 của phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Điện Biên kết luận: “02 mẫu chất bột màu trắng trích ra từ vật chứng thu giữ của Quàng Văn Q gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine”.

Tại bản Cáo trạng số: 01/CT-VKS-TG ngày 24 tháng 12 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đã truy tố bị cáo Quàng Văn Q về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa hôm nay bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

Thực hành quyền công tố tại phiên tòa: Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tuyên tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 1,02 gam Heroine (M1B), 2,64 gam Heroine (M2B) vật chứng còn lại của vụ án, 02 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu xanh, 01 chiếc tất màu vàng, 01 mảnh nilon màu hồng và 02 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng. Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo hoàn toàn nhất trí với bản cáo trạng và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Ngoài xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo không có ý kiến gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi của bị cáo: Khoảng 18 giờ ngày 10/10/2021, bị cáo Quàng Văn Q mua 01 gói Heroine với giá 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản N, xã Q, huyện T mục đích để sử dụng. Sau khi mua được Heroine bị cáo đi về nhà chia thành 03 phần rồi lấy nilon gói lại (trong đó có 02 gói Heroine gói bằng nilon màu trắng và 01 gói Heroine gói bằng nilon màu hồng). Sau khi chia xong bị cáo cho 01 gói Heroine gói bằng nilon màu trắng vào trong 01 túi nilon màu xanh, cho gói Heroine gói bằng nilon màu hồng vào trong chiếc tất màu vàng và cất giấu toàn bộ số Heroine vào túi quần bên phải đang mặc trên người. Đến khoảng 10 giờ 40 phút ngày 11/10/2021 khi phát hiện thấy tổ công tác Công an huyện Tuần Giáo đến nhà bị cáo đã lấy chiếc tất màu vàng bên trong đựng 01 gói Heroine màu hồng ném qua cửa sổ ra đằng sau vườn nhà và lấy 02 gói Heroine trong túi quần ra tự giác giao nộp cho tổ công tác. Đến 12 giờ 15 phút ngày 11/10/2021 Công an huyện Tuần Giáo khám xét khẩn cấp người, nơi ở của bị cáo thu giữ tại góc vườn đằng sau nhà bị cáo 01 chiếc tất màu vàng, bên trong có 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét khẩn cấp, lời khai của người chứng kiến, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo Quàng Văn Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng ma túy là 4,05 gam Heroine. Vì vậy, Cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo là người có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử kết luận: Bị cáo Quàng Văn Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

[2] Về tính chất và mức độ của vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Hành vi của bị cáo trực tiếp, tiếp tay cho những người chuyên mua bán trái phép các chất ma túy tồn tại và phát triển; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm .... làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn huyện Tuần Giáo nói riêng và tỉnh Điện Biên nói chung. Tội phạm mà bị cáo thực hiện là tội phạm nghiêm trọng. Vì vậy hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật, mới có tác dụng phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh chống tội phạm.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân: Tại giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo có bố đẻ được Chủ tịch nước tặng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng Nhì và hạng Ba, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo từ nhỏ sống phụ thuộc vào gia đình tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, được đi học đến lớp 7; năm 2001 kết hôn; năm 2009 nghiện chất ma túy. Năm 2010 bị Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo xét xử tại Bản án số: 12/HS-ST ngày 17/12/2010 tuyên phạt 10 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy và tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 27/01/2018 chấp hành xong án phạt tù về địa phương sinh sống. Bị cáo đã phải cải tạo tại trại giam, lẽ ra phải lấy đó làm bài học để sống tốt hơn. Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo thông qua hình phạt để răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện, có ý thức tuân thủ pháp luật đồng thời giúp bị cáo cai nghiện chất ma túy.

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Xét thấy nghề nghiệp của bị cáo là sản xuất nông nghiệp, sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, nên không có khả năng thi hành. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Kiểm sát viên đề nghị: Xét thấy mức hình phạt Kiểm sát viên đã đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra bị cáo khai không biết tên, địa chỉ của người đàn ông đó. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuần Giáo không có căn cứ để điều tra làm rõ, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Vật chứng vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 1,02 gam Heroine (M1B), 2,64 gam Heroine (M2B) vật chứng còn lại của vụ án, 02 mảnh nilon màu trắng, 01 vỏ túi nilon màu xanh, 01 chiếc tất màu vàng, 01 mảnh nilon màu hồng và 02 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về hành vi và các quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần Giáo; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan đã thực hiện đều hợp pháp và được chấp nhận.

Án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí; theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo được miễn nộp toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Về tội danh: Bị cáo Quàng Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Quàng Văn Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2021.

3. Về vật chứng: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa 1,02 gam Heroine (M1B); 2,64 gam Heroine (M2B) vật chứng còn lại của vụ án; 02 mảnh nilon màu trắng; 01 vỏ túi nilon màu xanh; 01 chiếc tất màu vàng; 01 mảnh nilon màu hồng và 02 vỏ phong bì cũ dùng để niêm phong vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 24/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo.

4. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo được miễn nộp toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17/01/2022).

Cỡ chữ