- Tranh chấp gì? án hình sự — "19 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG THÁP Bản án số: 19/2022/HS-ST Ngày: 26-8-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Quốc Hội.
Ông Bùi Văn Sinh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Minh Hậu - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (là điểm cầu trung tâm) và tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp (là điểm cầu thành phần) xét xử trực tuyến công khai tại 02 điểm cầu vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2022/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Dương Văn T, sinh năm 1977 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Văn Bưng, sinh năm 1950 và con bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1950; Có vợ Nguyễn Thị R, sinh năm 1974; Con có 03 người: lớn nhất, sinh năm 1995; nhỏ nhất, sinh năm 2003 và có 06 anh em ruột, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; Tạm giữ: Không; tạm giam: Không; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thành T:
1. Nguyễn Minh Q, sinh năm 1983 (cha của bị hại).
2. Nguyễn Thị Nu E, sinh năm 1986 (mẹ của bị hại).
Cùng cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện theo ủy quyền của anh Q và chị Nu E là: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985.
Cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần X tỉnh Đồng Tháp.
Địa chỉ: Số x, đường T, phường x, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện theo pháp luật của Công ty là ông Nguyễn Hữu P, chức vụ Tổng Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Hữu P là ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1974 (có mặt tại phiên tòa).
Cư trú: Tổ x, ấp H, xã H, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng: Trần Phú A, sinh năm 1990 (vắng mặt tại phiên tòa).
Cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Dương Văn T là nhân viên Công ty cổ phần X tỉnh Đồng Tháp, vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 22/3/2022, T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 66C-094.99 (có giấy phép lái xe theo quy định) đến chỗ lấy đất, cách Ủy ban nhân dân xã T, huyện T khoảng 50 mét, trên tuyến đường ĐT842 thuộc ấp H, xã T, huyện T, khi lấy đất xong T điều khiển cho xe chạy lùi vào giao lộ (ngã ba) giữa đường đal cụm dân cư và tuyến đường ĐT842 để quay đầu xe chạy về hướng chợ G G thuộc ấp T, xã T, huyện T. Khi xe quay đầu xong chạy lên tới mặt đường ĐT842 thuộc ấp H, xã T thì va chạm vào xe đạp do em Nguyễn Thành T điều khiển chạy theo hướng từ chợ T đi chợ G G. Hậu quả: làm cho em T và xe đạp bị té ngã xuống đường. Sau đó, em T được đưa đến Trạm y tế xã T để cấp cứu, nhưng do bị đa chấn thương nặng nên đã tử vong.
Vật chứng của vụ án thu giữ được:
- 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu OPFFICE PRES TR, đã qua sử dụng và bị hư hỏng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng đã xử lý trả lại cho anh Nguyễn Văn Đ là đại diện gia đình bị hại Nguyễn Thành T (Bút lục: 88, 99-100).
- 01 xe ô tô tải biển kiểm soát: 66C-094.99, nhãn hiệu KAMAZ, số máy 281912, số khung: 2478614, xe đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Hồng đã xử lý trả lại cho anh Nguyễn Minh T là đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần X tỉnh Đồng Tháp (Bút lục: 92, 99-100).
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra ngày 22/3/2022 thể hiện như sau:
Hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ xảy ra tại giao lộ (ngã 3) giữa đường đal cụm dân cư và tuyến đường ĐT842. Mặt đường đal cụm dân cư có bề rộng 03 mét, phương tiện lưu thông hai chiều. Mặt đường ĐT842 được kết cấu bằng bê tông nhựa, mặt đường khô ráo, rộng 5,5m có vạch kẻ đường dạng nét đứt, vạch đơn, phương tiện lưu thông hai chiều. Đoạn đường có biển báo hiệu chỗ ngoặt nguy hiểm. Điểm va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát: 66C-094.99 do Dương Văn T điều khiển và xe đạp do Nguyễn Thành T chạy từ tâm điểm va chạm cách lề phải theo chiều đi từ chợ T đến chợ G G, xã Tân Phước là: 0,45 mét.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 282/KL-KTHS ngày 11-4-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận nguyên nhân tử vong của Nguyễn Thành T do bị đa chấn thương, trong đó chấn thương ngực, bụng kín do lực chèn ép rất nặng làm dập phổi, vỡ phức tạp thùy phải gan gây mất máu cấp là nguyên nhân tử vong (Bút lục 27-28).
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 08/KL-HĐĐG ngày 25-5-2022 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Tân Hồng kết luận: 01 chiếc xe đạp nhãn hiệu OPFFICE PRES TR, giá trị còn lại 70%, giá trị định giá: 2.065.000 đồng.
Tại Cơ quan điều tra, anh Nguyễn Văn Đ là người đại diện cho gia đình bị hại và bị cáo Dương Văn T đã thỏa thuận bồi thường các khoản: chi phí điều trị, mai táng phí, tổn thất về tinh thần, sửa xe bị hư hỏng và các khoản chi phí khác. Tổng cộng số tiền 180.000.000 đồng và đã bồi thường xong.
Tại Cáo trạng số 20/CT-VKSTH ngày 25 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố Dương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Dương Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi của bị cáo như nội dung Cáo trạng truy tố. Bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.
Tại phiên tòa, anh Nguyễn Văn Đ là người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại trình bày đã nhận đủ số tiền bồi thường các khoản: chi phí điều trị, mai táng phí, tổn thất về tinh thần, sửa xe bị hư hỏng và các khoản chi phí khác là 180.000.000 đồng, ngoài ra phía bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Tại phiên tòa anh Nguyễn Minh T là đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần X tỉnh Đồng Tháp không yêu cầu bị cáo bồi thường vì tài sản của Công ty là xe ô tô tải biển kiểm soát: 66C-094.99 không bị hư hỏng và trong giai đoạn điều tra Công ty đã nhận lại tài sản xong.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Dương Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; đã thỏa thuận bồi thường xong cho đại diện gia đình bị hại. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra gia đình bị hại có đơn không yêu cầu xử lý hình sự và dân sự; có ông nội Dương Văn Ý là người có công cách mạng, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất. Nên đây được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Không có.
Từ những phân tích trên Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Dương Văn T mức án từ 01 (một) năm đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã thỏa thuận bồi thường xong với đại diện hợp pháp của bị hại nên không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong ở giai đoạn điều tra nên không xem xét giải quyết.
Những người tham gia tố tụng không tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo Dương Văn T xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Hồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo Dương Văn T phù hợp với nội dung Cáo trạng truy tố, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản kết luận giám định pháp y về tử thi, kết luận định giá, lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên và người tham giam gia tố tụng khác và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, qua tranh tụng đã đủ cơ sở kết luận vào vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 22/3/2022 bị cáo T điều khiển xe ô tô tải biển kiểm soát 66C-094.99 (có giấy phép lái xe theo quy định) đến chỗ lấy đất cách Ủy ban nhân dân xã T, huyện T khoảng 50 mét, trên tuyến đường ĐT842 thuộc ấp H, xã T, huyện T, khi lấy đất xong T điều khiển cho xe chạy lùi vào giao lộ (ngã ba) giữa đường đal cụm dân cư và tuyến đường ĐT842 để quay đầu xe chạy về hướng chợ G G thuộc ấp T, xã T, huyện T. Khi xe quay đầu xong chạy lên tới mặt đường ĐT842 thuộc ấp H, xã T, huyện T thì va chạm vào xe đạp do em Nguyễn Thành T điều khiển chạy theo hướng từ chợ T đi chợ G G. Hậu quả: làm cho em T và xe đạp bị té ngã xuống đường. Sau đó, em T được đưa đến Trạm y tế xã T để cấp cứu nhưng do bị đa chấn thương nặng nên đã tử vong. Hành vi của bị cáo đã vi phạm vào khoản 3 Điều 24 và Luật giao thông đường bộ. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự mà Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội.
Điều luật trên quy định:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giao giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Làm chết người; .”
Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo Dương Văn T gây ra đã tước đi mạng sống của bị hại, làm gia đình họ mất đi một người thân không sao tìm lại được. Mặt khác, hành vi phạm tội của bị cáo còn xâm phạm đến an toàn công cộng trên địa bàn, gây tâm lý hoang mang cho người dân khi tham gia giao thông, do vậy cần xét xử bị cáo với mức án nghiêm minh, không chỉ để xử phạt bị cáo mà còn để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân; tình tiết tăng nặng; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo Dương Văn T có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dương Văn T phạm tội với lỗi vô ý, sau khi gây ra tai nạn, bị cáo đã tích cực đưa bị hại đi cấp cứu, sau khi bị hại chết, bị cáo đã đến gia đình bị hại để thăm viếng, điều này chứng tỏ rằng bị cáo đã ý thức được những lỗi lầm mà bị cáo gây ra cho bị hại. Bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại 180.000.000 đồng bao gồm: chi phí sửa xe, viện phí, mai táng phí, tổn thất tinh thần,…; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Hơn nữa, người đại diện hợp pháp của bị hại trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm đều xin Cơ quan tiến hành tố tụng xem xét không xử lý bị cáo về hình sự, dân sự; bị cáo có ông nội tên Dương Văn Ý là người có công cách mạng, được Chủ tịch nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất vì đã có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nên đây được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mà áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có chức vụ, làm thuê và có hoàn cảnh khó khăn. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Do không ai yêu cầu nên Hội đồng không giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong ở giai đoạn điều tra nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Về án phí: Bị cáo Dương Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét thấy phát biểu luận tội và đề nghị xử lý vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Dương Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt bị cáo Dương Văn T 01 (Một) năm tù, nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 26-8-2022).
Giao bị cáo Dương Văn T cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình của bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Dương Văn T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Dương Văn T phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp đang trong thời gian thử thách mà bị cáo Dương Văn T phạm tội mới, thì Tòa án buộc bị cáo Dương Văn T phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Điều 56 Bộ luật hình sự.
Trường hợp bị cáo Dương Văn T thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
2. Không án dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Dương Văn T.
3. Về trách nhiệm dân sự: Không ai yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
4. Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong ở giai đoạn điều tra nên không xem xét giải quyết.
5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30- 12- 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26-8-2022).
7. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT; - VKSND tỉnh ĐT; - Sở Tư pháp tỉnh ĐT; - VKSND huyện Tân Hồng, tỉnh ĐT; - Cơ quan CSĐT CA Tân Hồng, ĐT; - Cơ quan THAHS CA Tân Hồng, ĐT; - CC THADS huyện Tân Hồng, tỉnh ĐT; - Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thùy Dung |