- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ VĂN U - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| HUYỆN TAM ĐƢỜNG TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2022/HS-ST Ngày: 09/5/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƢỜNG, TỈNH LAI CHÂU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Thanh Bắc.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà: Nguyễn Thị Thủy.
Ông: Hạng A Sính.
Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Thủy – Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu tham gia phiên toà: Bà: Đinh Thị Huế – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 5 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 4 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn U – (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam.
Sinh năm: 1984 tại T, tỉnh Lai Châu.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Bản NĐ, xã KH, huyện T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Cán bộ; Con ông: Lò Văn PH (đã chết); Con bà: Mào Thị N (đã chết); Gia đình bị cáo có 12 anh, chị em. Bị cáo là con thứ 11 trong gia đình; có vợ là: Tòng Thị P, sinh năm 1983 và 01 con sinh năm 2007; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Lò Văn U bị bắt, tạm giữ tại Nhà tạm giữ - Công an huyện T từ ngày 19/01/2022 đến ngày 25/01/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và giao bị cáo cho UBND xã KH, huyện T, tỉnh Lai Châu quản lý, theo dõi cho đến nay “có mặt tại phiên tòa”.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Tòng Thị P, sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản NĐ, xã KH, huyện T, tỉnh Lai Châu “vắng mặt có lý do”.
Người làm chứng:
Anh Lù A L, sinh năm 1981. Địa chỉ:Bản SP, xã KH, huyện T, tỉnh Lai Châu “vắng mặt không có lý do”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ, ngày 19 tháng 01 năm 2022, Lò Văn U một mình điều khiển xe mô tô BKS 25N1- 011.98 đi ra thị trấn T, huyện T có việc cá nhân. Sau khi xong việc, U điều khiển xe mô tô quay về nhà, khi đến khu vực cánh đồng thuộc xã BL, huyện T, U gặp 01 đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên, tuổi, địa chỉ, qua trao đổi U nhờ người đàn ông đó mua hộ được 02 gói Heroine được gói bằng các mảnh nilon màu trắng, trong đó có 01 gói được đốt dính một đầu, 01 gói được buộc thắt nU một đầu với giá 400.000 đồng (Bốn trăm nghìn đồng), mua được Heroine U cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc của mình rồi tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về, còn người đàn ông đó đi đâu U không biết.
Khi Lò Văn U đi đến khu vực thuộc bản SPT, xã KH, huyện T, tỉnh Lai Châu thì bị tổ công tác Công an huyện T phối hợp với công an xã KH, huyện T ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra, lúc này có anh Lù A Lừ, sinh năm 1981 trú tại bản SP, xã KH, huyện T trên đường đi chợ về đã được chứng kiến toàn bộ sự việc, quá trình kiểm tra tổ công tác đã phát hiện, thu giữ tại túi quần bên trái đang mặc của Lò Văn U 02 gói Heroine được gói bằng các mảnh nilon màu trắng, trong đó 01 gói được đốt dính một đầu, 01 gói được buộc thắt nút một đầu, sau đó tổ công tác đã mời người chứng kiến, chính quyền địa phương lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng vào hồi 17 giờ 00 phút ngày 19/01/2022.
Tại bản kết luận giám định số: 10/KLGĐ, ngày 20/01/2022 của ông Phan Văn Huỳnh - Người giám định tư pháp theo vụ việc trong lĩnh vực kỹ thuật hình sự, theo Quyết định công bố danh sách người giám định tư pháp theo vụ việc lĩnh vực kỹ thuật hình sự trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Kết luận số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn U từng gói có khối lượng là: Gói 1 có khối lượng là 0,36 gam; Gói 2 có khối lượng là 0,24 gam. Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn U có tổng khối lượng là 0,6 gam (Không phẩy sáu gam).
Tại bản Kết luận giám định số: 149/GĐ-KTHS, ngày 23/01/2022, của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lai Châu kết luận: 02 (hai) mẫu chất bột, màu trắng (ký hiệu M1, M2) gửi giám định là ma túy, loại: Heroine.
Vật chứng của vụ án: Thu giữ của Lò Văn U 0,6 gam Heroine đã trích 0,17 gam gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật, số còn lại là 0,43 gam cùng phong bì niêm phong vật chứng ban đầu và hai mảnh nilon màu trắng gói vật chứng ban đầu; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen-đỏ, BKS: 25N1-011.98, số máy JC43E-6451450, số khung RLHJC4322BY494267, xe cũ đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màn hình cảm ứng màu đen, ốp điện thoại màu nâu bên trong ốp điện thoại có hai mảnh giấy bạc mỗi mảnh đều có dính muội than màu đen, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Bản cáo trạng số 10/CT-VKSTĐ, ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T truy tố bị cáo Lò Văn U về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố của mình đồng thời phân tích, đánh giá toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Lò Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn U từ 12 tháng đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, khấu trừ 06 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đến chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo do bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn.
Đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được qui định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong làm bằng phong bì Công văn do công an huyện T phát hành Mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật còn lại A1 + A2 + A3 = 0,43 gam cùng phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, hai mảnh nilon màu trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn U, sinh năm: 1984 trú tại: bản NĐ, xã KH, huyện T, tỉnh Lai Châu. Thu giữ ngày 19/01/2022”. Mặt sau phong bì được dán kín các mép bằng một tờ giấy niêm phong màu trắng dán kín phong bì từ mặt sau ra mặt trước, trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Quốc, Phan Văn Huỳnh, Đinh Thị Huế, Sý Văn Ớn và Lò Văn U. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì được đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T; 02 mảnh giấy bạc, mỗi mảnh đều có dính nhuộm than màu đen
Đề nghị trả lại cho chị Tòng Thị P: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ - đen, BKS: 25N1-011.98, số máy: JC43E-6451450, số khung: RLHJC4322BY494267, xe cũ đã qua sử dụng (không kiểm tra chất lượng bên trong)
Trả lại cho bị cáo Lò Văn U: Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màn hình cảm ứng màu đen, ốp điện thoại màu nâu, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Lời nói sau cùng bị cáo Lò Văn U xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Hành vi phạm tội của bị cáo; tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên tòa hôm nay cũng như quá trình điều tra bị cáo Lò Văn U đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo đều phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ. Như vậy đã có đủ căn cứ khẳng định:
Vào hồi 17 giờ 00 phút, ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại bản SPT, xã KH, huyện T, tỉnh Lai Châu, Lò Văn U đang có hành vi tàng trữ trái phép 02 gói Heroine có tổng khốilượng 0,6 gam (không phẩy sáu gam) với mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp thực hiện thì bịtổ công tác Công an huyện T phối với với công an xã KH, huyện T, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn. Ý thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì nghiện chất ma túy nên đã thúc đẩy bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Nội dung bản cáo trạng truy tố, căn cứ đề nghị của Viện kiểm sát huyện T đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo là đảng viên, là cán bộ xã nên có đủ điều kiện nhận biết ma túy là độc dược gây nghiện, gây tổn hại cho sức khỏe của con người và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Nhà nước ta đang đấu tranh quyết liệt để loại trừ ma túy ra khỏi đời sống xã hội và xử phạt nghiêm khắc đối với những người nào có các hành vi liên quan đến ma túy, bị cáo vì ham chơi đua đòi nên đã mua 0,6 gam Heroine về để sử dụng cho bản thân. Xét cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo được Trung ương Hội chữ thập đỏ Việt Nam tặng Bằng khen do có thành tích xuất sắc trong công tác; bố đẻ của bị cáo là ông Lò Văn Phớ được nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có tài sản gì đáng giá nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với người đàn ông khoảng 30 tuổi theo lời khai nhận của bị cáo Lò Văn U là người đã mua hộ Heroine cho U tại khu vực cánh đồng thuộc xã BL, huyện T. Do nhân thân, lai lịch không rõ ràng nên không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
Đối với chị Tòng Thị P là đồng sở hữu chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25N1-011.98. Việc U sử dụng chiếc xe mô tô trên làm phương tiện phạm tội, chị P hoàn toàn không biết nên không đồng phạm với U.
2] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vật chứng:
Đối với: Một phong bì niêm phong làm bằng phong bì Công văn do công an huyện T phát hành Mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật còn lại A1 + A2 + A3 = 0,43 gam cùng phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, hai mảnh nilon màu trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn U, sinh năm: 1984 trú tại: bản NĐ, xã KH, huyện T, tỉnh Lai Châu. Thu giữ ngày 19/01/2022”. Mặt sau phong bì được dán kín các mép bằng một tờ giấy niêm phong màu trắng dán kín phong bì từ mặt sau ra mặt trước, trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Quốc, Phan Văn Huỳnh, Đinh Thị Huế, Sý Văn Ớn và Lò Văn U. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì được đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T; 02 mảnh giấy bạc, mỗi mảnh đều có dính muội than màu đen. Là vật chứng của vụ án, là vật Nhà nước cấm lưu hành, vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với:
- 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ - đen, BKS: 25N1-011.98, số máy: JC43E-6451450, số khung: RLHJC4322BY494267, xe cũ đã qua sử dụng (không kiểm tra chất lượng bên trong) xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, khi bị cáo lấy xe đi mua ma túy chị Tòng Thị P là vợ bị cáo không biết nên trả lại cho chị P.
- Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màn hình cảm ứng màu đen, ốp điện thoại màu nâu, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
Án phí:
Áp dụng Điều 135; 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn U phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo cáo Lò Văn U 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/01/2022 đến ngày 25/01/2022 là 06 (sáu) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành 11 (mười một) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn từ được tính từ ngày bị cáo đến chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
3. Về vật chứng của vụ án:
Tịch thu tiêu hủy: Một phong bì niêm phong làm bằng phong bì Công văn do công an huyện T phát hành Mặt trước phong bì ghi: “Mẫu vật còn lại A1 + A2 + A3 = 0,43 gam cùng phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, hai mảnh nilon màu trắng gói vật chứng ban đầu thu giữ của Lò Văn U, sinh năm: 1984 trú tại: bản NĐ, xã KH, huyện T, tỉnh Lai Châu. Thu giữ ngày 19/01/2022”. Mặt sau phong bì được dán kín các mép bằng một tờ giấy niêm phong màu trắng dán kín phong bì từ mặt sau ra mặt trước, trên các mép dán của mảnh giấy niêm phong có các chữ ký và ghi rõ họ tên của: Lò Văn Quốc, Phan Văn Huỳnh, Đinh Thị Huế, Sý Văn Ớn và Lò Văn U. Trên mép dán của tờ giấy niêm phong ở bốn góc mặt trước phong bì được đóng bốn hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện T; 02 mảnh giấy bạc, mỗi mảnh đều có dính muội than màu đen.
Trả lại cho chị Tòng Thị P: 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, màu đỏ - đen, BKS: 25N1-011.98, số máy: JC43E-6451450, số khung: RLHJC4322BY494267, xe cũ đã qua sử dụng (không kiểm tra chất lượng bên trong).
Trả lại cho bị cáo Lò Văn U: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màn hình cảm ứng màu đen, ốp điện thoại màu nâu, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Số vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại kho vật chứng Chi cục thi hành án dân sự huyện T, tỉnh Lai Châu.
4. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn U.
5, Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKS tỉnh, huyện; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - THA dân sự; - Nhà tạm giữ CA huyện; - THA PT; - Sở Tư pháp; - Lưu HS - TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Thanh Bắc |