vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Việt H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, điểm c khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Việt H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Việt H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày: 30-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP, TỈNH SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lò Trung Thành;

Ông Nguyễn Anh Hào.

- Thư ký phiên tòa: Bà Tòng Thị Duyên, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp

Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia

phiên tòa: Ông Giàng A Mơ, Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Sốp Cộp:

- Người tiến hành tố tụng:

Kiểm sát viên dự khuyết: Ông Quàng Văn Cuộc.

Thư ký phiên tòa dự khuyết: Ông Sòi Ngọc An Sơn, Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

Ngày 30/11/2022, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp,

tỉnh Sơn La, và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Sốp Cộp xét xử

trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2022/TLST-HS

ngày 11/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2022/QĐXXST-HS

ngày 17/11/2022 đối với bị cáo:

Dương Việt H, tên gọi khác: không; sinh ngày 12/02/1994 tại xã T, huyện Y,

tỉnh Hưng Yên; nơi thường trú: tổ X, thị trấn S1, huyện S1, tỉnh Sơn La; nơi tạm trú:

bản M, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: thợ cắt tóc; trình độ học vấn: 12/12;

dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương

Văn N và bà Bùi Thị H; có vợ là Nguyễn Thị Huyền N và 01 con; tiền án, tiền sự:

không có; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/8/2022 cho đến nay; có mặt tại điểm

cầu thành phần.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Huyền

N, sinh ngày 12/3/1993, nơi thường trú: tổ X, thị trấn S1, huyện S1, tỉnh Sơn La; nơi tạm trú: bản M, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La; có mặt tại điểm cầu trung tâm.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 50 phút ngày 09/8/2022, Tổ Công tác Công an huyện Sốp Cộp

làm nhiệm vụ tại khu vực bản N, xã S, huyện S đã phát hiện, bắt quả tang Dương Việt H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ trong lòng bàn tay trái của Dương Việt H là 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng nhãn hiệu “Thăng Long”, bên trong có chứa 01 gói nilon màu xanh đựng 10 viên nén màu hồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 26C1-16978.

Ngày 10/8/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sốp Cộp đã bóc

mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng. Kết quả cân tịnh: 10 viên nén màu hồng có khối lượng 0,99 gam, lấy 05 viên có khối lượng 0,5 gam làm mẫu giám định ký hiệu H, còn lại 05 viên có khối lượng 0,49 gam lưu kho vật chứng ký hiệu H1. Kết luận giám định số 1370/KL-KTHS ngày 15/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H là ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng của mẫu giám định là 0,5 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ 0,99 gam, loại Methamphetamine”.

Trong quá trình điều tra, Dương V H đã khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 09/8 2022, sau khi ăn cơm tại nhà hàng Y tại bản M, xã S, trên đường đi về H gặp một người đàn ông đang đi bộ trên đường. H dừng xe lại để làm quen và nói chuyện thì người đàn ông đó tự giới thiệu tên là V. Trong quá trình nói chuyện, V có rủ H đi mua ma túy để sử dụng. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên H đồng ý và chở V về quán cắt tóc của mình tại bản M, xã S lấy 300.000 đồng và đưa cho V cầm. Sau đó H điều khiển xe mô tô của mình chở V đi tìm mua ma túy. Đến khu vực bản N xã S, H và V gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ trên đường. V đã chủ động hỏi mua ma túy và được người đàn ông đó đã bán cho 10 viên hồng phiến đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng với giá 300.000 đồng. Sau khi mua ma túy, H điều khiển xe chở V quay về. Trên đường về, V đưa ma túy cho H cầm trong lòng bàn tay trái. Đang trên đường về thuộc địa phận bản N, xã S thì gặp Tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp kiểm tra, phát hiện, bắt giữ. Khi thấy Tổ công tác ra hiệu lệnh dừng xe, V đã nhảy xuống xe chạy thoát, Tổ công tác đã truy đuổi nhưng không bắt được.

Bản Cáo trạng số 68/CT-VKSSC ngày 11/11/2022 của Viện kiểm sát nhân

dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, truy tố bị cáo Dương Việt H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi như nội dung nội dung bản cáo trạng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Huyền N đề nghị được trả lại chiếc xe mô tô đã thu giữ và xuất trình văn bản chứng minh đây là tài sản riêng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Dương Việt H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51;

Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 20 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình

phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều

106 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, tịch

thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo, vỏ phong bì, vỏ bao thuốc lá, túi nilon

đựng vật chứng; trả lại cho chị Nguyễn Thị Huyền N chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda

biển kiểm soát 26C1-16978.

- Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/

UBTVQH14, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với đề nghị xử lý vật chứng

của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nhất trí với quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng

xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Sốp

Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá

trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định

của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người

bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ

quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố

tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp

pháp.

Về hành vi của bị cáo: Ngày 09/8/2022, bị cáo Dương Việt H bị bắt quả

tang về hành vi tàng trữ trái phép 0,99 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản

thân. Bị cáo khai nguồn gốc ma túy là ngay trước đó mua của một người đàn ông

không quen biết tại khu vực bản N, xã S với giá 300.000 đồng. Lời khai của bị cáo

là thống nhất trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, phù hợp với Biên bản bắt

người phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến. Bị cáo

có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ, sử dụng ma tuý là vi phạm

pháp luật nhưng bị cáo vẫn đi mua ma tuý để sử dụng. Do vậy, Viện kiểm sát nhân

dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c

khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về các đối tượng liên quan: Trong quá trình điều tra, bị cáo khai đã cùng

một thanh niên tên là V bàn bạc, thống nhất và đi mua ma túy của một người đàn

ông dân tộc Mông không biết tên và địa chỉ. Ngoài lời khai của bị cáo thì không có

tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh. Do vậy không có cơ sở để điều tra, xử lý và

bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với khối lượng ma túy bị phát hiện bắt giữ.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp

nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước

về chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không

có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và ăn năn hối cải về hành vi của mình. Do vậy, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định “Người

phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng". Theo các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo làm nghề cắt tóc, không có tài sản có giá trị lớn. Do vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Số lượng ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu giám định

là vật cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tiêu hủy; 02 phong bì thư, 01 vỏ bao thuốc lá, 01 mảnh nilon màu xanh, 01 túi nilon màu trắng là vật không còn giá trị sử dụng, cần tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 26C1-16978, giấy

chứng nhận đăng ký xe mang tên Nguyễn Thị Huyền N, theo nội dung văn bản mà chị N cung cấp tại phiên tòa, nguồn gốc số tiền mua xe mô tô là bố đẻ của chị N cho riêng chị N. Chị N không biết bị cáo dùng xe đi mua ma túy về sử dụng. Do vậy, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp về việc trả lại chiếc xe mô tô cho ch là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật

Hình sự: Tuyên bố bị cáo Dương Việt H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Dương Việt H 22 (hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Dương Việt H.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố

tụng hình sự; điểm a, điểm c khoản 1; khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự:

- Tiêu hủy 01 phong bì thư của Công an huyện Sốp Cộp đã được niêm phong

kín. Một mặt phong bì ghi: Vật chứng lưu kho vụ Dương Việt H - Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 09/8/2022. Bên trong phong bì có chứa 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Thăng Long; 01 mảnh nilon màu xanh đựng ban đầu và 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 05 viên nén màu hồng, có khối lượng 0,49 gam, ký hiệu H1.

- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Huyền N 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe

Wave α, màu sơn đen, bạc, biển kiểm soát 26C1-169.78, đã qua sử dụng.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản

1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng

án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Dương Việt H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn

đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Huyền N có quyền

kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ chị N, bị cáo Dương

Việt H có quyền kháng cáo bản án. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên

án (ngày 30/11/2022)./.

Cỡ chữ