- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V, tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2022/HS-ST Ngày: 19 – 5 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Hường
2. Bà Đàng Thị Hồng Lam
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Quang Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hằng – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2022/HSST ngày 05 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXXST-HS ngày 06/5/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V (tên thường gọi khác: không), sinh năm 1998 tại Ninh Thuận; Nơi cư trú: Khu phố x, phường M, Tp. P, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; họ tên cha: không rõ; họ tên mẹ: Nguyễn Thị E; anh, chị, em ruột có 05 người lớn nhất sinh 1995, nhỏ nhất sinh 2009, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; vợ con chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có. Nhân thân: Ngày 30/01/2018 bị Công an phường M, Tp. P xử phạt 1.500.000đ về hành vi đánh bạc. Nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 13/02/2022, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện N. (có mặt tại phiên tòa)
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đỗ Thị H – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận. (có mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Cao Hiền Tôn B, sinh 1994. Nơi cư trú: Khu phố y, phường M, Tp. P, tỉnh Ninh Thuận. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ ngày 13/02/2022 Nguyễn Văn V, sinh ngày: 28/6/1998, trú tại: Khu phố x, phường M, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận sử dụng điện thoại Masstel gắn sim số 0933222817 liên lạc với một người tên Vẹo (không rõ nhân thân lai lịch) khoảng 30 tuổi ở P, xã P, huyện N để mua 01 gói ma tuý với số tiền 280.000 đồng về sử dụng. V và Vẹo hẹn nhau giao ma tuý tại khu vực chợ T, xã P1, huyện N. Sau khi mua được ma tuý V giấu trên yên xe mô tô hiệu Dream, không gắn biển số đi tìm địa điểm để sử dụng, trên đường đi thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm Công an tỉnh Ninh Thuận phối hợp với Công an xã P1 bắt quả tang. Công an đã tạm giữ 01 gói nylon hàn kín bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 điện thoại di động màu đỏ đen, loại bàn phím, số Imei 1: 353535065421610; số Imei 2: 353535065421628, gắn sim 0933222817; 01 xe mô tô hiệu Dream không gắn biển số, số khung RRKWCH5UMCXN02497; số máy: VTT68JL1P52FMH002497.
Tại Bản kết luận giám định số 55/KLGĐ-PC09 ngày 16/02/2022 c a Phòng k thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Thuận kết luận: Chất tinh thể màu trắng (ký hiệu M1) chứa trong 01 gói nylon hàn kín gửi đến giám định là chất ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng c a mẫu gửi đến giám định là: 0,1162 g. Mẫu đã sử dụng hết cho giám định.
Cáo trạng số 25/CT-VKS-HS ngày 04/5/2022 c a Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.
Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội c a mình như trên.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
Tịch thu sung qu Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Masstel, màu đỏ đen, loại bàn phím, số Imei 1: 353535065421610, số Imei 2: 353535065421628, gắn sim số 0933222817 c a Nguyễn Văn V sử dụng vào mục đích liên lạc mua trái phép chất ma tuý về sử dụng.
Tuyên trả 01 (một) xe mô tô hiệu Dream không gắn biển số, số khung RRKWCH5UMCXN02497, số máy VTT68JL1P52FMH002497, màu trắng nâu cho anh Cao Hiền Tôn B.
Ý kiến c a người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Do nhận thức pháp luật c a bị cáo còn hạn chế, nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất theo đề nghị c a Viện kiểm sát cho bị cáo, để giáo dục bị cáo thành công dân tốt và xem xét miễn án phí HSST theo quy định c a pháp luật cho bị cáo do bị cáo thuộc hộ cận nghèo.
Bị cáo đồng ý với quan điểm luận tội c a Viện kiểm sát tại phiên tòa, không tranh luận gì. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bị cáo nhận thấy hành vi c a mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tính hợp pháp c a các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng c a cơ quan điều tra công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, th tục, quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Hành vi c a bị cáo: Lời khai c a bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, nên đ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 13/02/2022, V đã đến khu vưc chợ T thuộc xã P1, huyện N mua 01 tép ma tuý có khối lượng: 0,1162gam chất ma túy, loại Methamphetamine c a một người tên Vẹo và cất giấu trên yên xe đang đi tìm địa điểm để sử dụng thì bị Phòng cảnh sát điều tra tội phạm Công an tỉnh Ninh Thuận phối hợp Công an xã P1 bắt quả tang.
Hành vi nêu trên c a Nguyễn Văn V đã đ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như quyết định truy tố c a Viện kiểm sát nhân dân huyện N là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy c a bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý c a nhà nước về các chất ma túy, làm phát sinh, lây lan các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ tác hại c a ma túy đối với con người và đời sống xã hội, xong vẫn cố tình phạm tội. Vì vậy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đ để cải tạo, giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung, nhất là công tác phòng, chống tội phạm ma túy trong giai đoạn hiện nay trên địa bàn huyện N.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi c a mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về vật chứng vụ án:
- Ma tuý thu tại hiện trường gửi đến giám định đã sử dụng hết cho công tác giám định.
- Tịch thu sung qu Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động Masstel, màu đỏ đen, loại bàn phím, số Imei 1: 353535065421610, số Imei 2: 353535065421628, gắn sim số 0933222817. Đây là điện thoại c a Nguyễn Văn V sử dụng vào mục đích liên lạc mua trái phép chất ma tuý về sử dụng.
- 01 (môt) xe mô tô hiệu Dream không gắn biển số, số khung RRKWCH5UMCXN02497, số máy VTT68JL1P52FMH002497, màu trắng nâu. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên c a anh Cao Hiền Tôn B cho Nguyễn Văn V mượn, anh B không biết V mượn sử dụng vào mục đích mua ma tuý về sử dụng nên tuyên trả cho anh B là có căn cứ.
Chấp nhận ý kiến c a người bào chữa cho bị cáo.
Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo và có đơn xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Nên miễn án phí HSST cho bị cáo quy định tại đểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 13/02/2022.
2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu sung qu : 01 (Một) điện thoại di động Masstel, màu đỏ đen, loại bàn phím, số Imei 1: 353535065421610, số Imei 2: 353535065421628, gắn sim số 0933222817 c a Nguyễn Văn V.
Tuyên trả cho anh Cao Hiền Tôn B 01 (một) xe mô tô hiệu Dream không gắn biển số, số khung RRKWCH5UMCXN02497, số máy VTT68JL1P52FMH002497, màu trắng nâu.
(Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện N, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện N và Chi cục thi hành án dân sự huyện N ngày 09/5/2022).
3. Về án phí: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Văn V do bị cáo thuộc hiện hộ cận nghèo.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/5/2022). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - VKSND huyện N; - Công an huyện N; - Chi cục THADS huyện N; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu (hồ sơ, án văn)./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) Lê Thị Hường Lê Quang Chính | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Cường THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Vũ Văn Cường |