vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 28/04/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

1 Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn Tài - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 36 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MANG THÍT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH VĨNH LONG
–––––––––––––––
Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày 28-04-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Phẩm

Bà Trần Thị Mỹ Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 4 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Tấn T, sinh năm 1977 tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp Hòa Phú, xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: KHg; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Điện (chết) và bà Nguyễn Thị Tư; anh chị em ruột có 08 người (lớn nhất sinh năm 1956, nhỏ nhất sinh năm 1977); có vợ Trịnh Thị Bé Soạn; có 02 con sinh năm 2004, năm 2011; tiền án: kHg; tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 26/01/2021 bị Công an huyện Mang Thít ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã đóng phạt xong ngày 27/01/2021; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thành H, sinh năm 1989 tại huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp Phú Hòa, xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm vườn; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: KHg; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Hùng và bà Bùi Thị Ngọc; anh chị em ruột có 02 người (lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 1991); tiền án: kHg; tiền sự: 01 tiền sự: Ngày 26/01/2021 bị Công an huyện Mang Thít ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã đóng phạt xong ngày 27/01/2021; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1/ Nguyễn Chí T, sinh năm 1982. (có mặt)

Địa chỉ: ấp Thanh Thủy, xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

2/ Ngô Văn Th, sinh năm 1980. (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Mỹ Hạnh, xã Chánh An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

* Người làm chứng:

1/Lê Thị M, sinh năm 1949. (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Vàm Lịch, xã Chánh An, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các T liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 26/01/2021, bị cáo Nguyễn Tấn T và bị cáo Nguyễn Thành H, bị Công an huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng), về hành vi “đánh bạc”, đã chấp hành xong quyết định xử phạt.

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/01/2022. Tại nhà của Nguyễn Thanh S có tổ chức tiệc rượu gồm: bị cáo Nguyễn Tấn T; Nguyễn Thanh T (Tuấn em ruột của Sang) và Sang. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, thì Tuấn uống rượu say nên về trước. Sau khi T về S điện thoại rủ bị cáo Nguyễn Thành H và Ngô Văn Th còn T thì điện thoại rủ Nguyễn Chí T đến uống rượu. Đến khoảng 21 giờ thì Tâm một mình chạy xe mô tô biển số 84F2 - 4041 đến vào ngồi uống rượu cùng với T và Sang, khoảng 15 phút sau thì Thiện một mình chạy xe mô tô biển số 59K1-630.27 đến và bị cáo H cũng đi bộ đến. Sau đó, Sang say rượu nên vào nhà ngủ trước, còn bị cáo T, bị cáo H, Thiện và Tâm kHg uống rượu tiếp mà ngồi uống nước trà. Trong lúc đang ngồi uống nước trà thì Tâm chủ động rủ bị cáo T, bị cáo H và Thiện đánh bài binh sạp xám ăn thua bằng tiền, tất cả điều đồng ý nên Tâm một mình chạy xe mô tô biển số 84F2-4041 đi mua bộ bài tây 52 lá về để đánh bài, đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày Tâm mua bài về đến, do ghế bàn nhà Sang bị ướt nên bị cáo T, bị cáo H, Thiện và Tâm đi qua nhà bà Lê Thị Mười (mẹ ruột Sang) cặp nhà Sang để đánh bạc ăn thua bằng tiền ở trên giường ngủ bên trong phòng khách phía bên tay trái theo hướng từ cửa chính nhìn vào. Lúc này bị cáo T ngồi gần cửa chính ra vào nhà, bên tay trái bị cáo T là bị cáo H, bên tay phải bị cáoT là Thiện và ngồi đối diện bị cáo T là Tâm, hình thức đánh bạc loại bài binh 13 lá (binh sạp xám) ăn chi, mỗi chi ăn thua với số tiền là 10.000 đồng.

Lúc này, bị cáo Nguyễn Tấn T đem theo trong người số tiền 13.510.000đ (Mười ba triệu năm trăm mười ngàn đồng), khi vào sòng bạc đã lấy ra 810.000đ (Tám trăm mười ngàn đồng) để trên chiếu bạc rồi tham gia chơi kHg xác định được ăn hay thua, còn lại số tiền 12.700.000đ (Mười hai triệu bảy trăm ngàn đồng) kHg sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Bị cáo Nguyễn Thành H đem theo trong người số tiền 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng), khi vào sòng bạc đã lấy ra hết để trên chiếu bạc rồi tham gia chơi kHg xác định được ăn hay thua.

Nguyễn Chí Tâm đem theo trong người số tiền 4.300.000đ (Bốn triệu ba trăm mười ngàn đồng), sử dụng 60.000đ (Sáu chục ngàn đồng) để mua 10 bộ bài tây, khi vào sòng bạc đã lấy ra 340.000đ (Ba trăm bốn mươi ngàn đồng) để trên chiếu bạc rồi tham gia chơi kHg xác định được ăn hay thua, còn lại số tiền 3.900.000đ (Ba triệu chín trăm ngàn đồng) kHg sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Ngô Văn Thiện đem theo trong người số tiền 2.000.000đ (Hai triệu đồng), khi vào sòng bạc đã lấy ra 50.000đ (Năm mươi ngàn đồng) để trên chiếu bạc rồi tham gia chơi kHg xác định được ăn hay thua, còn lại số tiền 1.950.000đ (Một triệu chín trăm năm chục ngàn đồng) đồng kHg sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Đến khoảng 22 giờ 05 phút, cùng ngày khi bị cáo T, bị cáo H, Thiện và Tâm đánh bạc được khoảng 10 ván bài thì bị Công an huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long bắt quả tang cùng tang vật và đồ vật đã bị thu giữ gồm:

- 10 bộ bài tây (trong đó 01 bộ bài tây đã sử dụng).

- Tiền tang tại chiếu bạc 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm ngàn đồng).

Ngày 11/02/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và ra lệnh cấm đi khởi nơi cư trú đối với Nguyễn Tấn T và Nguyễn Thành H, về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sữa đổi bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra, các bị cáo kHg có tình tiết tăng nặng và đã thành khẩn khai báo. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đối với tang vật và đồ vật thu giữ gồm: Tiền Việt Nam đồng tại chiếu bạc là 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm ngàn đồng) và 10 bộ bài tây (trong đó 01 bộ bài tây đã sử dụng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mang Thít, tiếp tục tạm giữ để xử lý.

Đối với Nguyễn Chí Tâm và Ngô Văn Thiện hành vi chưa cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKS.HMT, ngày 31/03/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Nguyễn Tấn T, bị cáo Nguyễn Thành H về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tấn T, bị cáo Nguyễn Thành H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Tấn T, bị cáo Nguyễn Thành H đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thành H phạm tội: “Đánh bạc” và đề nghị xử phạt mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo kHg giam giữ.

- Phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

- Miễn việc khấu trừ thu nhập để sung quỹ nhà nước đối với các bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam đồng: 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm ngàn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy: 10 bộ bài tây, trong đó một bộ bài đã qua sử dụng.

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thành H phải nộp mỗi bị cáo là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo thừa nhận mình có tội và kHg có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các T liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mang Thít, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng kHg có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thành H khai nhận: Ngày 08/01/2022 các bị cáo Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thành H đã thực hiện hành vi đánh bạc để ăn thua bằng tiền bằng hình thức bài binh xạp xám, mỗi bàn ăn thua là 10.000 đồng. Xét thấy, lời khai của bị cáo T, bị cáo H tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của các đối tượng cùng tham gia và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Ngày 26/01/2021 bị cáo T, bị cáo H bị Công an huyện Mang Thít ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Tính đến thời điểm bị lập biên bản sự việc ngày 08/01/2022 khi các bị cáo đang tham gia đánh bạc thì chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên các bị cáo T, bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thành H đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên hành vi của các bị cáo T, bị cáo H đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thành H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét tính chất, mức độ hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội kHg lớn, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng ở địa phương, chỉ vì ham lợi bất chính mà thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền. Bản thân các bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính 01 lần về hành vi đánh bạc chưa được xóa tiền sự, lẽ ra các bị cáo phải biết hành vi sai trái của mình để sửa đổi trở thành người công dân có ích cho xã hội nhưng các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết tâm tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội thường dẫn đến các hậu quả nghiêm trọng khác như trộm cắp, gây thương tích, cướp của …vì thế, để đấu tranh ngăn chặn tệ nạn này kHg để tái diễn trong xã hội, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ và T sản của công dân,…cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo kHg có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, giữa các bị cáo kHg có sự phân công, giao việc trước và các bị cáo đều giữ vai trò là người thực hiện hành vi.

Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo Nguyễn Tấn T có mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Tư là người có công Nhà Nước nên được hưởng tình tiết giam nhẹ quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, do đó kHg cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà xử phạt các bị cáo cải tạo kHg giam giữ, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục cải tạo các bị cáo trong một thời gian dài giúp các bị cáo trở thành công dân hữu ích.

Về hình phạt bổ sung và nghĩa vụ khấu trừ thu nhập: Phạt bổ sung các bị cáo số tiền là: 10.000.000 đồng. Căn cứ vào khoản 3 Điều 36 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 miễn việc khấu trừ thu nhập để sung ngân sách nhà nước đối với các bị cáo do các bị cáo có thu nhập kHg ổn định.

Đối với các đối tượng Nguyễn Chí Tâm, Ngô Văn Thiện là những người tham gia đánh bạc cùng với bị cáo T, bị cáo H, tuy nhiên số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Công an huyện Mang Thít đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam đồng: 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng).

- Tịch thu tiêu hủy: 10 bộ bài tây, trong đó một bộ bài đã qua sử dụng.

Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thành H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

1.1 Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn T phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 01 (một) năm cải tạo kHg giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo kHg giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Tấn T cho Ủy ban nhân dân xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Tấn T số tiền là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

- Miễn việc khấu trừ thu nhập để sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo.

1.2 Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36, Điều 17 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành H phạm tội “Đánh bạc”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành H 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo kHg giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo kHg giam giữ được tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Thành H cho Ủy ban nhân dân xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã An Phước, huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

- Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thành H số tiền là: 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

- Miễn việc khấu trừ thu nhập để sung công quỹ nhà nước đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam đồng: 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm nghìn đồng)

- Tịch thu tiêu hủy: 10 bộ bài tây, trong đó một bộ bài đã qua sử dụng.

(Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04/04/2022 và hiện Kho bạc Nhà nước huyện Mang Thít đang quản lý theo biên bản giao nhận T sản ngày 04/04/2022).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn T, Nguyễn Thành H mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ