vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 25/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo V.M.T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu và tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số 02/KL-KTHS, có chữ ký của giám định viên, trợ lý và dấu niêm phong kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo V.M.T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HÒA THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày: 25/4/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HÒA THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kim Lành

Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trần Văn Thạch;

2. Bà Dương Thị Tư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kim Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Tiến – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 20/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 18/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: V.M.T; Tên gọi khác: không có. Sinh ngày 15 tháng 11 năm 1996; Tại Tây Ninh; Giới tính: Nam. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: Nhà số 49, tổ 10, ấp T.A, xã T.T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 8/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không có. Cha: Võ Văn Thành, sinh năm 1960; Mẹ: Phan Ngọc Mảnh, sinh năm 1960; Vợ, con: chưa có. Nhân thân: Tiền án, tiền sự: không có. Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/01/2022, tạm giam ngày 06/01/2022 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

V.M.T là đối tượng sử dụng ma túy từ năm 2017. Để có ma túy sử dụng, khoảng 14 giờ 45 phút, ngày 01/01/2022 Tỏa đến khu vực hẻm 30, đường Trịnh Phong Đáng thuộc ấp Trường Lộc, xã T.T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, gặp một người thanh niên tên Đạt (không rõ nhân thân, địa chỉ) mua một bịch ma túy đem về để dành sử dụng. Sau khi mua được ma túy, Tỏa bỏ vào túi quần phía trước, bên trái đang mặc rồi đi bộ về nhà. Đến 15 giờ cùng ngày, khi đang đi trên đường số 22, đường Ngô Quyền đoạn thuộc ấp Long Hải, xã T.T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thì bị lực lượng Công an thị xã Hòa Thành kiểm tra bắt quả tang, thu giữ trong túi quần phía trước bên trái của Tỏa 01 (một) bịch nylon loại bóp dính miệng, bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, được niêm phong ký hiệu M.

Quá trình điều tra, bị can đã thành khẩn khai báo về hành vi của mình.

- Tại Kết luận giám định số 02, ngày 03/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận: Mẫu chất rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon loại bóp dính miệng (ký hiệu M) gửi đến giám định là chất ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng 0,5013 gam.

* Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng: Có bảng thống kê kèm theo.

* Qua xác minh bị can không có tài sản nên không kê biên.

Tại Cáo trạng số: 18/CT-VKSHT ngày 14 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo V.M.T về tội “Tàng trử trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo V.M.T từ 01 năm đến 02 năm tù;

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

* Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: các bị cáo đã biết lỗi, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm về sum họp với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra thị xã Hòa Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hòa Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do dó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp vật chứng vụ án cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Lúc 15 giờ ngày 01/01/2022, trên đường số 22, đường Ngô Quyền đoạn thuộc ấp Long Hải, xã T.T, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh, V.M.T có hành vi tàng trữ trái phép 0,5013 gam chất ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng, thì bị bắt quả tang. Đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo V.M.T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đối với người tên Đạt bán ma túy cho Tỏa, hiện chưa xác định được, khi nào làm rỏ xử lý sau.

. Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, bởi lẽ ma túy là tệ nạn xã hội và là nguyên nhân lây bệnh hiểm nghèo và phát sinh các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chính trị tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử nghiêm bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét thấy bị cáo không có tài sản, Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung đối với bị cáo.

. Khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: không có.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Sau khi phạm tội, bị cáo có thái độ thật thà khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông ngoại bị cáo là liệt sĩ; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

. Về các biện pháp tư pháp: Cần tịch thu và tiêu hủy chất ma túy thu giữ trong người bị cáo.

. Về án phí hình sự sơ thẩm: Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo V.M.T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên xử bị cáo V.M.T 01 (Một) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 01/01/2022.

2. Về các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu và tiêu hủy:

- 01 (Một) gói niêm phong ghi vụ số 02/KL-KTHS, có chữ ký của giám định viên, trợ lý và dấu niêm phong kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh.

3.Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ