- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| -Bản án số: 19/2022/HS-ST -Ngày: 20/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài;
* Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Phúc Viễn
2. Bà Lê Thị Ngọc Ánh
* Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Dương Kim Cương Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương Ngọc kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 08/2022/TLST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2022/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
PHẠM MINH A, sinh ngày 27/8/1998. Số chứng minh nhân dân 312299420 do Công an tỉnh Tiền Giang cấp ngày 01/6/2011. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang. Nghề nghiệp: công nhân. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 07/12. Con bà Phạm Thị A1, cha (vô danh) và. Bị cáo là con duy nhất trong gia đình, chưa có vợ, con. Tiền sự: 02 lần. Ngày 21/3/2021, Công an xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quyết định số 85/QĐ-XPHC, đã đóng phạt. Ngày 25/5/2021, Công an xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quyết định số 128/QĐ-XPHC, đã đóng phạt. Tiền án: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/11/2021 đến ngày 28/11/2021, tạm giam từ ngày 28/11/2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Chợ Gạo và có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nghiêm Sĩ B, sinh năm 1973. (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M1, xã N1, Y, tỉnh Tiền Giang.
- Người làm chứng: Hồ Thiện Tâm, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp M2, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ 30 phút ngày 25/11/2021, tại đường M thuộc ấp M, xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Gang lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Gạo kết hợp Công an xã N tiến hành kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Phạm Minh A đang cất giấu trong túi quần phía trước bên phải mà A đang mặc trên người 01 bịch nylon màu trắng được hàn kín bên trong chứa tinh thể trong suốt nghi là ma túy.
Qua điều tra, A khai nhận: khoảng 20 giờ ngày 25/11/2021, A liên hệ và điều khiển xe mô tô biển số 59VA-002.32 từ nhà đến khu vực gần Ủy ban nhân dân xã An Thạnh Thủy, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang gặp một người tên Thuận không rõ họ, tên, địa chỉ để mua một bịch ma túy giá 300.000 đồng. Khi mua ma túy xong, A bỏ bịch ma túy vào túi quần phía trước bên phải mà A đang mặc trên người chạy về nhà. Trên đường đi đến đường M thuộc ấp M, xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang thì bị lực lượng Công an xã N kiểm tra phát hiện bắt quả tang. Mục đích A mua ma túy về là để sử dụng.
Theo bản kết luận giám định số 241/KLGĐ-PC09 ngày 27/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Tiền Giang kết luận:
Các mẫu tinh thể trong suốt trong 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín, để trong một gói giấy màu trắng dạng bì thư được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Phạm Minh A, Hồ Thiện Tâm và Huỳnh Thanh Tuấn gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,2113 gam, loại Methamphetamine.
Tại Cáo trạng số 09/CT-VKSCG ngày 11/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Phạm Minh A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát huyện Chợ Gạo giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Minh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Phạm Minh A từ 18 tháng đến 24 tháng tù.
Và đề nghị xử lý vật chứng như sau:
Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói niêm phong ký hiệu số 241 niêm phong mẫu vật kèm theo kết luận giám định số 241/KLGĐ-PC09 ngày 27 tháng 11 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Nguyễn Thị Diệu Hương, Trợ lý giám định Huỳnh Tấn Liễu và bên nhận Nguyễn Bảo Khánh Nguyên;
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng màu đen trắng, có dòng chữ “DUCATI.OHLINS”.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng. Bị cáo có lời nói sau cùng: bị cáo biết mình có hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình, trở thành người có ích cho xã hội để làm lại cuộc đời.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của bị cáo,người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo xuất trình các tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Quyết định tạm giữ, Lệnh tạm giam đều căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự và được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Các biên bản thu giữ, niêm phong tang vật, mở niêm phong lấy mẫu giám định, Quyết định trưng cầu giám định, Kết luận giám định đều được các Cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị can, bị cáo được đảm bảo, đúng thời gian, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa đúng trình tự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo việc xét xử trang nghiêm, đảm bảo quyền cho những người tham gia tố tụng tại phiên tòa. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt không lý do mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia phiên tòa. Nhận thấy, việc vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng nêu trên không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với các bị cáo, các bị cáo đồng ý tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục phiên tòa xét xử đối với bị cáo.
[3] Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 25/11/2021, tại đường M thuộc ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Gang Phạm Minh A bị bắt quả tang khi đang cất giấu 01 bịch ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,2113 gam nhằm mục đích để sử dụng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều luật quy định:“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy ...thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạọ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, bị cáo đã thành niên, nhận thức được chất ma túy là mối hiểm họa cho cộng đồng và việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo cất giấu 01 bịch ma túy để sử dụng qua giám định có khối lượng 0,2113 gam, loại Methamphetamine là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong khi bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo và xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và giáo dục chung cho mọi người.
Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân, đồng phạm:
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều tiền sự (02 tiền sự như nêu trên).
+ Đồng phạm: Trong vụ án không có đồng phạm.
Đối với đối tượng tên Thuận đã bán ma túy cho A do A không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên không tiến hành xác minh làm rõ được, sau này điều tra làm rõ được nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, bị cáo đang bị tạm giam. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 gói niêm phong ký hiệu số 241 niêm phong mẫu vật kèm theo kết luận giám định số 241/KLGĐ-PC09 ngày 27 tháng 11 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Nguyễn Thị Diệu Hương, Trợ lý giám định Huỳnh Tấn Liễu và bên nhận Nguyễn Bảo Khánh Nguyên. Đây là chất ma túy còn lại sau khi giám định nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động cảm ứng màu đen trắng, có dòng chữ “DUCATI.OHLINS” là điện thoại của bị cáo sử dụng để liên lạc mua ma túy về sử dụng và sử dụng để chuyển tiền mua ma túy qua điện thoại nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
+ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về các chứng cứ buộc tội, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, về mức hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với nhân thân, hậu quả của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.
+ Về xử lý vật chứng, Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Phạm Minh A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
* Xử phạt bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 28/11/2021;
2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong ký hiệu số 241 niêm phong mẫu vật kèm theo kết luận giám định số 241/KLGĐ-PC09 ngày 27 tháng 11 năm 2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang có chữ ký ghi họ tên Giám định viên Nguyễn Thị Diệu Hương, Trợ lý giám định Huỳnh Tấn Liễu và bên nhận Nguyễn Bảo Khánh Nguyên.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động cảm ứng màu đen trắng, có dòng chữ “DUCATI.OHLINS”.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phạm Minh A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.
| * Nôi nhaän: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyeän Chợ Gạo; - Cc. THADS huyện Chợ Gạo; - Công an huyện Chợ Gạo; - Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. - Löu hoà sô, án văn. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Văn Tài |