vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 08/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 01 năm 2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày: 08-06-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Lê Thanh Mai.

Các Hội thẩm Nhân dân:

1. Ông Nguyễn Phi Hùng.

2. Ông Nguyễn Minh Đầy.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Lâm Hoàng Huynh -Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành..

- Đại diện Viện Kiểm sát Nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Hiếu Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 8 tháng 6 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 17/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14 /2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 05 năm 2022 đối với bị cáo:

1/ Họ và tên: Lê Minh T; Tên gọi khác: /; Giới tính: Nam; Sinh năm 1987, tại huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không có; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Lê Minh C, sinh năm 1954; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị S (đã chết); Vợ, con: chưa có; Tiền sự: không; Tiền án: 01 lần. Ngày 23/5/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/11/2017 đến nay chưa đóng án phí (chưa xóa án tích); Đặc điểm nhân thân: Ngày 14/02/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 27/11/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tú; tạm giữ: ngày 29/01/2022, tạm giam: ngày 06/02/2022. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp; (có mặt)

2/ Họ và tên: Nguyễn Chí T; Tên gọi khác: /; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991, tại huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: ấp P, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 9/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn T, sinh năm 1967; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không; Đặc điểm nhân thân: Ngày 22/6/2010, bị Ủy ban nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc 12 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; tạm giữ: ngày 29/01/2022, tạm giam: ngày 06/02/2022; bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1990; địa chỉ: Khóm M, phường X, TP. C, tỉnh Đồng Tháp. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Minh T và Nguyễn Chí T là bạn bè, cả hai đều là người nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 28/01/2022, Nguyễn Chí T điều khiển xe mô tô biển số 66P2-245.09 đến nhà Lê Minh T rủ T hùn tiền đến thành phố Vĩnh Long mua ma túy sử dụng thì T đồng ý, T hùn 100.000đ, Thắng hùn 200.000đ. Sau đó, Thắng điều khiển xe chở T đến khu vực cầu Lộ thuộc phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long gặp người phụ nữ không rõ họ tên, địa chỉ mua 50.000đ ma túy đá và 250.000đ heroin rồi cả hai cùng về. Khi về đến kho gạo Cỏ May thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì cả hai dừng xe trước cổng của công ty để lấy ma túy ra sử dụng. Đến 23 giờ cùng ngày, Công an xã Tân Bình tuần tra phát hiện Thắng và T có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra thì phát hiện dưới chân của T có để 01 bịch nylon hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy đá và trên tay của T đang cầm 01 gói giấy bạc, bên trong có chứa chất bột trắng, nghi là heroin nên Công an xã Tân Bình lập biên bản phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong tang vật, chuyển hồ sơ cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành giải quyết theo quy định.

Tại Bản kết luận giám định số 93/KL-KTHS ngày 30/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận:

+ Tinh thể rắn màu trắng chứa trong 01 bịch nylon màu trắng hàn kín tạm giữ của Lê Minh T và Nguyễn Chí T là ma túy, có khối lượng 0,021 gam, loại Methamphetamine (số thứ tự 323 thuộc Danh mục II, Nghị định số 73, ngày 15/5/2018 của Chính phủ)

+ Chất bột màu trắng chứa trong 01 gói giấy bạc tạm giữ của Lê Minh T và Nguyễn Chí T là ma túy, có khối lượng 0,160 gam, loại Heroin (số thứ tự 9, thuộc Danh mục I, Nghị định số 73 ngày 15/5/2018 của Chính phủ)

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tạm giữ của Lê Minh T 01 ống bơm kim tiêm, là dụng cụ T dùng sử dụng ma túy. Tạm giữ của Nguyễn Chí T 01 điện thoại hiệu Samsung; 01 điện thoại Iphone; 01 xe mô tô hiệu Sirius cùng giấy đăng ký xe biển số 66P2-245.09. Qua điều tra xác định 02 điện thoại là tài sản của Nguyễn Chí T không liên quan đến việc mua ma túy. Xe mô tô biển số 66P2-245.09 là của anh Đỗ Văn T. Anh T là chủ vựa hải sản “Tài Cua” có địa chỉ tại ngụ khóm Mỹ Hưng, phường 3, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Do Thắng là người làm thuê cho anh Tài nên anh Tài giao xe cho Thắng để đi giao hải sản cho khách hàng. Ngày 28/01/2022, Thắng sử dụng xe để đi mua ma túy anh Tài không biết. Anh Tài yêu cầu được nhận lại xe.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho T và Thắng, do không rõ họ tên, địa chỉ nên không mời làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành đã có T báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Long giải quyết theo quy định.

Tại bản Cáo trạng số: 16/CT-VKS-CT ngày 22/4/2022 Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành giữ quan điểm truy tố về tội danh, nêu lên các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lê Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù.

Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 ống bơm kim tiêm và 0,105 gam mẫu chất bột còn lại sau giám định, được niêm phong ghi niêm phong số 76, ngày 29/01/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E, Tạ Hoài T, Hà Trung T, Lê Minh T và Nguyễn Chí T.

+ Trả lại cho anh Đỗ Văn T 01 xe mô tô cùng giấy đăng ký xe biển số 66P2-245.09

+ Giao cơ quan Thi hành án dân sự tiếp tục tạm giữ của Nguyễn Chí T 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu Iphone (đã niêm phong) để bảo đảm thi hành án.

Bị cáo Nguyễn Chí T và Lê Minh T thừa nhận hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Các bị cáo trình bày lời nói sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qua điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo T và Thắng điều khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; có đủ cơ sở để xác định: Vào Khoảng 21 giờ ngày 28/01/2022, Nguyễn Chí T và Lê Minh T hùn tiền đến khu vực Cầu Lộ thuộc phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long mua 50.000đ ma túy đá và 250.000đ Heroin rồi mang về trước cổng kho gạo “Cỏ May” thuộc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp sử dụng. Đến 23 giờ cùng ngày, Công an xã Tân Bình tuần tra phát hiện Thắng và T đang cất giữ 0,021 gam Methamphetamine và 0,160 gam Heroin nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) . . . . . . . . . . .;

c) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

[3] Bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T hoàn toàn nhận thức được rằng Methamphetamine là chất ma túy độc hại cho sức khỏe và tính mạng của người sử dụng. Những người nghiện chất này sẽ bị tổn hại nghiêm trọng đến sức khỏe, có thể gây ảo giác, lệch lạc về lý trí, có thể dẫn đến vi phạm pháp luật. Nhà nước có những quy định chặt chẽ, nghiêm cấm, kiểm soát việc sản xuất, mua bán, vận chuyển và tàng trữ các chất ma túy, trong đó có Heroin và Methamphetamine và pháp luật có những quy định chế tài, xử lý rất nghiêm khắc; nhằm phòng chống, ngăn ngừa, hạn chế tệ nạn ma túy đang có chiều hướng phát triển, gây nguy hại cho cộng đồng và xã hội.

Nhưng bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T đã tàng trữ trái phép Heroin và Methamphetamine để sử dụng, hành vi này là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương, gây khó khăn cho Nhân dân và chính quyền địa phương trong việc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma túy.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Chí T không có tình tiết tăng nặng; còn bị cáo Lê Minh T bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, do bị cáo đã từng bị kết án, chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội.

Hai bị cáo T và Thắng cùng hùn tiền mua ma túy sử dụng, hành vi của các bị cáo là đồng phạm giản đơn; cả hai bị cáo đã từng bị đưa đi cai nghiện một thời gian nhưng vẫn không từ bỏ được ma túy, từ đó dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật hình sự là tàng trữ trái phép chất ma túy; do đó cùng chịu trách nhiệm hình sự như nhau về tội tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng 0.181gam. Tuy nhiên, bị cáo T có tình tiết tăng nặng là tái phạm, nên chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn bị cáo Thắng.

Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T ra khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo; mặt khác để các bị cáo có thời gian được giáo dục, học tập, rèn luyện sức khỏe, nhằm chữa trị, cai nghiện ma túy, có ý chí dứt khoát từ bỏ, đoạn tuyệt với ma túy, để trở về đoàn tụ với gia đình, trở thành công dân tốt, hòa nhập xã hội.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử nhận thấy phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng tính chất và hành vi phạm tội của từng bị cáo. Do đó, thống nhất với đề nghị về mức hình phạt đối với mỗi bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu hủy bỏ khối lượng ma túy còn lại sau giám định, trao trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp và tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;

[7] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho T và Thắng, do không rõ họ tên, địa chỉ nên không làm việc được. Hội đồng xét xử thống nhất việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành có T báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Long giải quyết theo quy định.

[8] Bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự năm 2015;

Tuyên bố các bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Lê Minh T 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 01 năm 2022.

3. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 29 tháng 01 năm 2022.

4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 ống bơm kim tiêm và 0,105 gam mẫu chất bột còn lại sau giám định, được niêm phong ghi niêm phong số 76, ngày 29/01/2022, có đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự-Công an tỉnh Đồng Tháp và các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn Thắng E, Tạ Hoài T, Hà Trung T, Lê Minh T và Nguyễn Chí T.

+ Trả lại cho anh Đỗ Văn Tài 01 xe mô tô cùng giấy đăng ký xe biển số 66P2-245.09.

+ Giao cơ quan Thi hành án dân sự tiếp tục tạm giữ của Nguyễn Chí T 01 điện thoại di động hiệu Samsung và 01 điện thoại di động hiệu Iphone (đã niêm phong) để bảo đảm thi hành án.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ Luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc Lê Minh T và Nguyễn Chí T mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Lê Minh T và Nguyễn Chí T được quyền kháng cáo lên Tòa án Nhân dân tỉnh Đồng Tháp; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ