vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An Tuyên án 17/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 27/7/2021. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy gói niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An, bên trong có … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẦN GIUỘC
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày: 17-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GI, TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Chí;

Bà Nguyễn Thị Hồng Thùy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai - Thư ký Tòa án nhân dân

huyện Cần Giuộc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần G tham gia phiên tòa:

Ông Huỳnh Minh Ân – Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, tên gọi khác: H, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Khu phố Kim Đ, thị trấn Cần G, huyện Cần G, tỉnh L; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ sinh năm 1942 (đã chết) và bà Lê Thị T, sinh năm 1949; Vợ con: Chưa có; Bị bắt, tạm giam từ ngày 27/7/2021 đến nay, có mặt.

Tiền án, tiền sự: Không;

Về nhân thân: Ngày 09/12/2016, Tòa án nhân dân huyện Bình C, thành phố H xử phạt 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản tại Bản án số 309/2016/HSST ngày 09/12/2016, đã được xóa.

Người làm chứng:

Ông Bùi Quốc Trường T, sinh năm: 1990, nơi cư trú: Ấp 5, xã Long H, huyện Cần Đ, tỉnh L (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 26/7/2021, Công an thị trấn Cần G tiến hành kiểm tra hành chính đối với đối tượng Bùi Quốc Trường T đang điều khiển xe mô tô, biển số 62L1-360.29 chở Nguyễn Văn S qua chốt kiểm dịch Covid 19 ở đường chùa Long T thuộc khu phố Kim Đ, thị trấn Cần G, huyện Cần G, tỉnh L. Tại đây, Công an phát hiện trong túi quần sau bên trái của S có một bóp vải màu xanh – nâu bên trong có 09 (chín) đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, chứa tinh thể màu trắng và 08 (tám) đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, chứa bột màu trắng nghi là chất ma túy nên Công an tiến hành lập biên bản, tạm giữ chất nghi là ma túy gửi giám định.

Tại Kết luận giám định số 671/2021/KLGĐ ngày 03/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, xác định:

+ Túi M1: Tinh thể màu trắng đựng trong 09 (chín) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,0794 gam, loại: Methamphetamine.

+ Túi M2: Chất bột màu trắng đựng trong 08 (tám) đoạn ống nhựa màu trắng hàn kín hai đầu, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng: 0,2984 gam, loại: Heroin.

Hoàn lại đối tượng gửi giám định: Mẫu vật sau giám định có khối lượng: 0,1952 gam (mẫu M2); mẫu M1 phục vụ hết cho công tác giám định. Tất cả được đóng gói niêm phong

Quá trình điều tra, Nguyễn Văn S khai nhận: Vào ngày 21/7/2021 Nguyễn Văn S điều khiển xe mô tô (không nhớ biển số) đến gần cầu Nhị Thiên Đ thuộc Phường Y, Quận X, thành phố H gặp một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 200.000 đồng ma túy đá và 500.000 đồng ma túy loại Heroin mang về nhà tại khu phố Kim Đ, thị trấn Cần G, huyện Cần G chia nhỏ cho vào các đoạn ống hút màu trắng, hàn kín đầu để dành sử dụng. Đến khoảng 11 giờ ngày 26/7/2021 Sơn điện thoại cho Bùi Quốc Trường T nhờ T chạy xe đến nhà chở Sơn đi mượn tiền chuộc xe mô tô. Sau đó T chạy xe mô tô biển số 62L1-360.29 đến nhà chở S đi mượn tiền. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày Thanh chở Sơn đến chốt kiểm soát dịch Covid-19 tại khu phố Kim Đ, thị trấn Cần G thì bị lực lượng chức năng yêu cầu kiểm tra hành chính phát hiện lập biên bản thu giữ. Tại thời điểm kiểm tra, Thanh hoàn toàn không biết Sơn cất giấu ma túy trong người.

Tại Cáo trạng số 16/CT-VKSCG ngày 06-01-2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần G truy tố Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố. Bị cáo đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không tranh luận. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng mức án nhẹ đối với bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần G khẳng định Cáo trạng số 16/CT-VKSCG truy tố Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Văn S từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 9 (chín) tháng tù.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự. Tịch thu tiêu hủy chất ma túy loại Heroin, có khối lượng 0.1952 gam, đã được niêm phong; một bóp bằng vải màu xanh – nâu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị cáo Nguyễn Văn S là đối tượng sử dụng ma túy. Khoảng 13 giờ 05 phút ngày 26/7/2021, qua kiểm tra hành chính, Công an thị trấn Cần G phát hiện trong túi quần sau bên trái của Nguyễn Văn S có một bóp vải màu xanh – nâu bên trong có 09 (chín) đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, chứa tinh thể màu trắng và 08 (tám) đoạn ống nhựa màu trắng, hàn kín hai đầu, chứa bột màu trắng nghi là chất ma túy. Theo Kết luận giám định số 671/2021/KLGĐ ngày 03/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L thì ma túy bị cáo tàng trữ là ma túy loại Heroin có khối lượng 0.2984 gam và Methamphetamine có khối lượng 0.0794 gam.

Do Heroine, Methamphetamine là các chất ma túy được quy định trong cùng một điểm tại các khoản của Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, vì vậy sẽ áp dụng quy định tại Điều 4 của Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 để tính tổng khối lượng của Heroine, Methamphetamine như sau:

- Cộng khối lượng của từng chất lại với nhau để xác định tổng khối lượng của 02 chất ma túy Heroine, Methamphetamine là: 0.2984 gam + 0.0794 gam = 0.3778 gam.

- Đối chiếu tổng khối lượng của 02 chất ma túy với quy định thì trong trường hợp này tổng khối lượng của 02 chất ma túy tương đương với khối lượng Heroine, Methamphetamine được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

- Như vậy trong trường hợp này tổng khối lượng của 02 chất ma túy Heroine, Methamphetamine thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể: “i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với số lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”

Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần G truy tố Nguyễn Văn S là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật.

Nguyễn Văn S là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ để sử dụng. Hành vi của S là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm đến an ninh trật tự tại địa phương.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Nguyễn Văn S là người trưởng thành, đang trong độ tuổi lao động, bản thân bị cáo đủ khả năng nhận thức được tác hại của việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không cố gắng cai nghiện, cải thiện sức khỏe để lao động giúp ích cho gia đình và xã hội, bị cáo lại tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng. Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử lý nghiêm đối với bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét thấy bị cáo hiện đang bị tạm giam, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đối với Bùi Quốc Trường T là người điều khiển xe môtô, biển số: 62L1-360.29 chở Nguyễn Văn S vào ngày 26/7/2021, nhưng T hoàn toàn không biết việc Sơn cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần G không xem xét xử lý. Tuy nhiên T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an thị trấn Cần G đã có quyết định xử phạt hành chính số 328/QĐ-XPHC ngày 01/8/2021 với số tiền 750.000 đồng là phù hợp.

Đối với người thanh niên bán ma túy cho S vào ngày 21/7/2021, tại Phường Y, Quận X, thành phố H, Công an huyện Cần G đã có thông báo cho Cơ quan CSĐT Công an Quận X, thành phố H để xác minh điều tra theo thẩm quyền là phù hợp.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự:

Chất ma túy loại Heroin, có khối lượng còn lại 0.1952 gam, đã được niêm phong nên tiêu hủy.

Một bóp bằng vải màu xanh – nâu, giá trị sử dụng không lớn nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 27/7/2021.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam Nguyễn Văn S 45 ngày kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.

Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy gói niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Long An, bên trong có chứa 0,1952 gam chất bột màu trắng (là ma túy, loại Heroin).

Tịch thu tiêu hủy một bóp bằng vải màu xanh – nâu.

Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần G đang tạm giữ vật chứng theo Quyết định chuyển vật chứng số 13/QĐ-VKSCG ngày 06/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần G.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc Nguyễn Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bản án sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ