vanban.org

Bản án 19/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Giàng A S, Giàng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Giàng A S 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian thụ hình tính từ ngày 04/5/2022 là ngày bị bắt tạm giam giữ đối với bị cáo. Xử phạt bị cáo Giàng A L 15 ( Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian thụ hình tính từ ngày 04/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A S, Giàng A L - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Giàng A S, Giàng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B, TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-ST
Ngày 30-8-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cầm Ngọc Thương.

Các hội thẩm nhân dân: 1.Ông Lò Đức Toản

2. Bà Nguyễn Thị Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Huyền Trang,Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Mùa A Hay, Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2022, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 8 năm 2022 đối với các bị cáo:

Giàng A S; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1987 tại huyện B, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản S, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A P (đã chết) và bà Hạng Thị D; Sinh năm 1963; bị cáo có vợ Mùa Thị M, sinh năm 1987 và 05 con, con lớn nhất 16 tuổi, nhỏ nhất 08 tuổi; Tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giam, giữ từ ngày 04/5/2022 đến nay. Có mặt.

Giàng A L; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1989 tại huyện B, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản S, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Giàng A T; Sinh năm 1969 và bà Vàng Thị D; Sinh năm 1970; bị cáo có vợ Thào Thị M, sinh năm 1997 và 03 con, con lớn nhất 12 tuổi, nhỏ nhất 04 tuổi; Tiền án: Không; tiền sự: Ngày 09/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng; Ngày 10/3/2018, bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi vi phạm hành chính “tàng trữ trái phép chất ma túy”; Nhân thân: Ngày 26/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị cáo bị bắt, tạm giam, giữ từ ngày 04/5/2022 đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Giàng A T; sinh năm 1969; Địa chỉ: Bản S, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 04/5/2022, Giàng A S đến nhà Giàng A L tại bản S, xã H, huyện B để rủ L góp tiền đi mua ma túy về sử dụng, L đồng ý và tự lấy xe máy không rõ nhãn hiệu, BKS 37Z4 – 2558 của bố L là ông Giàng A T chở S đến khu vực bản P thuộc xã C, huyện Y, tỉnh Sơn La thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đứng ở cạnh đường, S và L hỏi và mua được 01 gói nilon màu trắng, bên trong có chứa Heroine với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), S và L mỗi người đưa cho người đàn ông đó 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng). Sau đó, người đàn ông đi đâu, làm gì S và L không biết, S cất giấu gói Heroine vừa mua được vào túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi cùng L quay về đỉnh đèo chẹn thuộc địa phận bản C, xã H, huyện B. Khi đi đến khu vực đường liên bản C và bản S, xã H thì bị đội Cảnh sát giao thông Công an huyện B phối hợp với Công an xã H kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Về vật chứng của vụ án gồm: 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là Heroine; 01 chiếc xe mô tô không rõ nhãn hiệu, BKS 37Z4-2558.

Ngày 04/5/2022, CQCSĐT Công an huyện B đã phối hợp với Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, Viện kiểm sát nhân dân huyện B tiến hành mở niêm phong cân tịnh trọng lượng ma túy thu giữ được của Giàng A S, Giàng A L. Kết quả như sau:

Số chất bột màu trắng trong gói nilon màu trắng có khối lượng 0,645 gam. Cơ quan CSĐT Công an huyện B niêm phong vật chứng lấy mẫu ký hiệu SL.

Ngày 07/5/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La có bản kết luận giám định số: 784, kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu SL là ma túy, loại Heroine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,645 gam, loại Heroine”.

Tại phiên tòa công khai các bị cáo Giàng A S, Giàng A L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, trong hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa không phát sinh tình tiết mới.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKSBY ngày 05 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, truy tố bị cáo Giàng A S, Giàng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt các bị cáo Giàng A S, Giàng A L mỗi bị cáo mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì Do Công an huyện B phát hành bên trong có 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì đã bóc mở. Trả lại cho ông Giàng A T 01 chiếc xe máy BKS 37Z4-2558. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Giàng A S, Giàng A L.

Ý kiến của các bị cáo Giàng A S, Giàng A L tự bào chữa: Các bị cáo nhất trí với bản cáo trạng, luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Các bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai, mong hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, để các bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Giàng A T tranh luận: Chiếc xe máy BKS 37Z4-2558 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông T, việc Giàng A L sử dụng đi mua ma túy ông T hoàn toàn không biết và đề nghị xin lại chiếc xe để làm phương tiện đi lại cho gia đình.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo Giàng A S, Giàng A L, có đủ cơ sở để khẳng định:

Khoảng 11 giờ ngày 04/5/2022, Giàng A S và Giàng A L đã có hành vi đi mua 0,645 gam Heroine với giá 200.000 đồng của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết ở khu vực bản P, xã C, huyện Y và cất giấu trong túi quần Giàng A S đang mặc với mục đích mang về để sử dụng cho bản thân. Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, khi Giàng A S và Giàng A L đang đi trên đường liên bản C và bản S, xã H thì bị tổ công tác Công an huyện B phát hiện và bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng. Tiến hành giám định chất ma túy thu được của các bị cáo Giàng A S, Giàng A L kết quả giám định “là ma túy, loại Heroine”.

Xét hành vi trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và ảnh hưởng đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương. Bản thân các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hậu quả của hành vi, bị cáo Giàng A L đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm hành chính tàng trữ trái phép chất ma túy chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng các bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm với động cơ mục đích cá nhân. Trên cơ sở đó đủ điều kiện căn cứ kết luận hành vi trên của bị cáo Giàng A S, Giàng A L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015: Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:..c) Heroine, Cocaine, Methamphetamin, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 0,1 gam đến dưới 5 gam...” như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát là có căn cứ, việc xét xử bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo Giàng A S, Giàng A L: Các bị cáo đã đi mua và cất giấu trái phép 0,645 gam Heroine để sử dụng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng được quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có mức hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.

Xét về vai trò phạm tội của các bị cáo Giàng A S, Giàng A L: Trong vụ án các bị cáo là đồng phạm, thuộc đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Sang là người chủ mưu, khởi xướng, rủ bị cáo L đi mua ma túy về sử dụng, bị cáo L là người thực hành tích cực, sau khi nghe S rủ đã tự ý lấy xe máy để chở S và cùng nhau góp tiền mua ma túy. Vì vậy cần vận dụng điều Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015 khi quyết định hình phạt đối với vụ án có đồng phạm.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Giàng A S, Giàng A L:

Bị cáo Giàng A S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Giàng A L không có tình tiết tăng nặng nhưng là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo có 2 tiền sự: Ngày 09/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện B áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 18 tháng; Ngày 10/3/2022, bị cáo Giàng A L bị Công an huyện M xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.500.000 đồng (ba triệu năm trăm nghìn đồng) về hành vi vi phạm hành chính “tàng trữ trái phép chất ma túy”; đồng thời bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 26/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Sơn La xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (đã được xóa án tích); bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân mà còn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, nhận thức và am hiểu pháp luật có phần hạn chế, gia đình thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo có hoàn cảnh khó khăn. Nên các bị cáo Giàng A S, Giàng A L được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử xét cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của các bị cáo. Đồng thời cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội, đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.

Các bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục tạm giam theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Thời gian tạm giam được tính vào thời gian thụ hình.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cho thấy các bị cáo làm nghề trồng trọt, thu nhập thấp, gia đình thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo của xã Hua Nhàn, huyện Bắc Yên, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Đối với số vật chứng gồm: 01 mảnh nilon màu trắng, 01 phong bì niêm phong ban đầu là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, vật chứng không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc xe mô tô không rõ nhãn hiệu, BKS 37Z4-2558 là tài sản thuộc sở hữu của ông Giàng A T, việc Giàng A L sử dụng chiếc xe làm phương tiện đi mua ma túy ông T hoàn toàn không biết, ông Tống có đơn xin lại chiếc xe làm phương tiện đi lại của gia đình cần trả lại cho ông Giàng A T.

Vì vậy, cần căn cứ điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để xử lý.

Đối với nguồn gốc Heroine các bị cáo Giàng A S, Giàng A L khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông đáng đứng cạnh đường ở bản P, xã C, huyện Y, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ ở đâu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch của người này nên không có căn cứ, cơ sở để xử lý.

Đối với hành vi vi phạm các quy định khi tham gia giao thông của Giàng A L: Đội CSGT-TT Công an huyện B đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Giàng A L về hành vi vi phạm: không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy; chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm cho người đi mô tô, xe máy; Người điều khiển xe mô tô không có giấy chứng nhận bảo hiểm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực; Điều khiển xe không có giấy đăng ký xe; không có giấy phép lái xe do cơ quan có thẩm quyền cấp với tổng mức phạt 3.550.000 đồng (ba triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng) là đúng quy định của pháp luật.

Về án phí: Theo Quyết định 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Ủy ban dân tộc phê duyệt danh sách thôn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, thì bị cáo Giàng A S, Giàng A L là người dân tộc thiểu số sinh sống tại bản C, xã H, huyện B, tỉnh Sơn La là bản có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Gia đình các bị cáo Giàng A S, Giàng A L là hộ nghèo, hộ cận nghèo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015:

Tuyên bố các bị cáo Giàng A S, Giàng A L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Giàng A S 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian thụ hình tính từ ngày 04/5/2022 là ngày bị bắt tạm giam giữ đối với bị cáo.

Xử phạt bị cáo Giàng A L 15 ( Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian thụ hình tính từ ngày 04/5/2022 là ngày bị bắt tạm giam giữ đối với bị cáo.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu hủy số vật chứng gồm: 01 phong bì Do Công an huyện B phát hành bên trong có 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì đã bóc mở (đã được niêm phong).

Trả lại cho ông Giàng A Tống 01 chiếc xe máy BKS 37Z4-2558.

(Chi tiết theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an huyện Bắc Yên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Yên ngày 08/8/2022).

3. Về Án phí: Áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Giàng A S, Giàng A L.

Báo cho các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ