vanban.org

Bản án 19/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 25/03/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Sửa bản án sơ thẩm số 63/2021/HSST ngày 24/9/2021 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn C, cụ thể:

Giao bị cáo Trần Văn C cho chính quyền xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời giam thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn C đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Sửa bản án sơ thẩm số 63/2021/HSST ngày 24/9/2021 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn C, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HS-PT
Ngày 25/3/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lưu Toàn Nghĩa.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình, bà Nguyễn Thị Lan Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Thư ký TAND tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2022/TLPT-HS ngày 07/02/2022 đối với bị cáo Trần Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 183/2021/HSST ngày 24/12/2021 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Bị cáo kháng cáo:

Trần Văn C, sinh năm 1991

Nơi cư trú: Thôn N, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Ngọc T4 (đã chết), con bà Đoàn Thị Len; Có vợ là Phạm Thị Minh T5 và 1 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2013 bị phạt hành chính về hành vi tổ chức đánh bạc.

(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).

Trong vụ án này còn có các bị cáo: Trần Văn Q, Trần Văn T, Đặng Văn Q1, Đào Văn L, Đảo Văn T2, Trần Văn M, Trần Văn T3, Đoàn Văn C1, Đảo Minh N. Các bị cáo này không kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 08/8/2021, Trần Văn T3, Đào Minh N, Đào Văn L, Đoàn Văn C1, Trần Văn C và Đào Văn T2 đến nhà Trần Văn Q chơi. T3, N, L, C1, C, T2 rủ nhau đánh bạc thắng thua bằng tiền bằng hình thức đánh liêng. Khi thấy những người này rủ nhau đánh bạc, Q cầm bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn trong phòng khách để xuống chiếu trải sẵn tại phòng khách để đánh bạc.

Cách chơi được thống nhất như sau: Mỗi người chơi phải đặt tiền cược 10.000 đồng. Một người chia bộ bài tú lơ khơ 52 quân mỗi người 3 quân bài. Người chia bài là người đưa ra mức tố đầu tiên (thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 50.000 đồng). Nếu không tố thì người đó úp bài xuống, coi như bị thua ván bài đó và họ chỉ mất số tiền 10.000 đồng, tiếp theo là người liền kề bên phải. Khi việc tố kết thúc thì những người tố và theo phải so sánh bài với nhau. Về quân bài thứ tự là: 2<3<4<5<6<7<8<9<10<J<Q<K<A, về chất: Rô>cơ>tép>bích, cách tính cao thấp: Sáp>liêng>ảnh. Sau đó đọ điểm. Sáp là 3 quân bài giống nhau, chỉ khác nhau về chất, sáp 3 quân 2 là bé nhất, sáp 3 quân A là to nhất. Liêng là 3 quân bài liền kề nhau theo thứ tự từ bé đến lớn, không cần cùng chất, tính theo thứ tự tăng dần, bắt đầu từ (A, 2, 3) là bé nhất, (Q, K, A) là lớn nhất. Ảnh là 3 quân bài J, Q. K. Người nào có bài sáp thì mỗi người chơi còn lại phải trả cho người có bài sáp số tiền 40.000 đồng. Người nào có bài đồng hoa nghĩa là liêng đồng chất thì mỗi người chơi còn lại phải trả cho người có bài đồng hoa số tiền là 30.000 đồng. Nếu không ai có liêng, ảnh, sáp thì những người chơi cộng điểm trên bài để so sánh, tất cả các quân bài từ 10 đến K đều tính là 0 điểm. Nếu tổng điểm lớn hơn 10 thì lấy điềm là chữ số hàng đơn vị, điểm cao nhất là 9, điểm thấp nhất là 0. Người về nhất sẽ thu tiền của người tố, người theo đặt thêm vào. Ngoài ra, những người chơi đều thống nhất mỗi người chơi bỏ ra 10.000 đồng để ở trên chiếu cho chủ nhà. T3, N, L, C1, C và T2 đã bỏ ra mỗi người 10.000 đồng, tổng là 60.000 đồng để trên chiếu. T3, N, L, C1, C và T2 đánh bạc đến khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày thì C1 bị thua hết tiền nên không chơi nữa, ngồi xem. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Đặng Văn Q1 đến tham gia đánh bạc và bỏ ra 10.000 đồng để trên chiếu cho chủ nhà. Khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày có Trần Văn M và Trần Văn T đến tham gia đánh bạc. Đến khoảng 13 giờ 30’ cùng ngày thì N thua hết tiền nên ngồi xem. Khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày tổ công tác Công an thành phố T vào kiểm tra thu giữ tại chiếu bạc số 70.000 đồng, 1 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 1 chiếu nhựa, quản lý trên người các đối tượng số tiền dùng để đánh bạc 17.840.000 đồng. Trần Văn T sử dụng 11.100.000 đồng để đánh bạc, Đặng Văn Q1 sử dụng 2.600.000 đồng để đánh bạc, Đào Văn L sử dụng 1.230.000 đồng đánh bạc. Đào Văn T2 sử dụng 1.090.000 đồng đánh bạc, Trần Văn M sử dụng 590.000 đồng để đánh bạc, Trần Văn T3 sử dụng 500.000 đồng để đánh bạc, Trần Văn C sử dụng 480.000 đồng để đánh bạc, Đoàn Văn C1 sử dụng 170.000 đồng để đánh bạc, Đào Minh N sử dụng 150.000 đồng để đánh bạc.

Bản án sơ thẩm số: 183/2021/HSST ngày 24/12/2021 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn Q, Trần Văn T, Đặng Văn Q1, Đào Văn L, Đào Văn T2, Trần Văn M, Trần Văn T3, Trần Văn C, Đoàn Văn C1, Đào Minh N phạm tội "Đánh bạc".

2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Văn C 6 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Bản án xử phạt bị cáo Trần Văn T 12 tháng tù, Đặng Văn Q1 9 tháng tù, Trần Văn Q 9 tháng tù, Đào Văn L 8 tháng tù, Đào Văn T2 8 tháng tù, Trần Văn M 6 tháng tù, Trần Văn T3 6 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo và buộc phải chịu thời gian thử thách từ 24 tháng đến 12 tháng, phạt bổ sung các bị cáo này từ 7 đến 5 triệu đồng. Xử phạt bị cáo Đoàn Văn C1 15 tháng cải tạo không giam giữ, bị cáo Đào Minh N 15 tháng cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập mỗi bị cáo này 4.500.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 31/12/2021, bị cáo Trần Văn C có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thái độ ăn năn hối cải, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo tự sửa chữa lỗi lầm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo kháng cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm b khoản 1 điều 355, 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo C đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo.

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo làm và gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ nên được xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.

Về nội dung kháng cáo: Bị cáo thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiên trọng, nhân thân không có tiền án tiền sự, số tiền dùng vào việc đánh bạc nhỏ, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo hình phạt tù giam là quá nghiêm khắc. Vì vậy cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, cho bị cáo được hưởng án treo như quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là thỏa đáng.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Về án phí phúc thẩm: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Sửa bản án sơ thẩm số 63/2021/HSST ngày 24/9/2021 của Toà án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình về phần hình phạt đối với bị cáo Trần Văn C, cụ thể:

Áp dụng khoản 1 điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 17, điều 58, điều 50, điều 65 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Văn C 6 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Thời gian thử thách là 1 (một) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm, 25/3/2022.

Giao bị cáo Trần Văn C cho chính quyền xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu trong thời giam thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Về án phí phúc thẩm: p dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Trần Văn C không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 25/3/2022.

Cỡ chữ