- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| - TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 19/2022/HNGĐ-ST Ngày: 18/4/2022 V/v ly hôn (không công nhận quan hệ vợ chồng) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Phương
Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đỗ Văn Hòa
2. Bà Nguyễn Thị Viết Sáu
-Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Bạch Hoàng
Hùng - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Phan Thiết .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Bà Trương
Thị Mỹ Thuận - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 4 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan
Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số
338/2021/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2021 về việc “Ly hôn, nuôi con
chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày
16/3/2022, quyết định hoãn phiên tòa số 37/2022/QĐST-HNGĐ ngày
31/3/2022 giữa các:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981
Nơi cư trú: thôn P, xã L, thành phố T, tỉnh Bình Thuận.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1975
Nơi cư trú: thôn P, xã L, T, tỉnh Bình Thuận.
Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn
bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T chung sống với nhau từ năm 1999
nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ
chồng có hạnh phúc nhưng về sau thì thường xuyên xảy ra xung đột, mâu thuẫn
do bất đồng quan điểm sống. Ông T không còn quan tâm đến gia đình nữa. Bà H xác định không còn tình cảm vợ chồng nên yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Trần Văn T.
- Về con: có 03 con là Trần Thị Kiều L , sinh ngày 14/8/1999, Trần Thị
Kiều P , sinh ngày 12/12/2001 và Trần Văn L1, sinh ngày 22/8/2007. Hai con Kiều L , Kiều P đã trưởng thành. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con Trần Văn L1 và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản và nợ: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Trần Văn T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án,
không có ý kiến về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết tham gia
phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa án từ khi thụ lý đến khi xét
xử thực hiện đúng theo thủ tục tố tụng. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) thể hiện sự vô tư khách quan khi xét xử. Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của những người tham gia tố tụng.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX không công nhận quan hệ giữa bà
Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T là quan hệ vợ chồng. Về con: bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con Trần Văn L1. Bà H không yêu cấp dưỡng nuôi con nên không xét. Các đương sự không yêu cầu giải quyết tài sản nên không xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại
phiên tòa cũng như căn cứ vào kết quả tranh trụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu
cầu ly hôn ông Trần Văn T. Ông T là bị đơn trong vụ án có địa chỉ cư trú tại thôn P, xã L, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà H thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết theo qui định tại khoản 01 Điều 28; điểm a khoản 01 Điều 35; điểm a khoản 01 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: mặc dù đã được triệu tập hợp lệ
nhưng bị đơn ông T vắng mặt đến lần thứ hai, do đó, căn cứ vào điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 03 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Hội đồng xét xử xét thấy
bà Nguyễn Thị H chung sống với ông Trần Văn T từ năm 1999 tại thôn Tiến Hưng, xã L, thành phố T, tỉnh Bình Thuận nhưng không đăng ký kết hôn. Việc bà H và ông T chung sống không đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã L xác nhận tại giấy xác nhận ngày 09/12/2021. Xét thấy, bà H và ông T chung sống với nhau nhưng không tạo điều kiện đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên không thể cho bà và ông T ly hôn. Tòa
án tạo điều kiện cho các đương sự được hòa giải nhưng các đương sự đều
không muốn hòa giải để hàn gắn mâu thuẫn giữa các bên. Do đó căn cứ vào
khoản 01 Điều 14, khoản 02 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng
xét xử không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T là
quan hệ vợ chồng.
Về con: bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T có 03 con chung là
Trần Thị Kiều L - sinh ngày 14/8/1999, Trần Thị Kiều P g – sinh ngày
12/12/2001. Các con Trần Thị Kiều L và Trần Thị Kiều P đã trưởng thành, có
khả năng lao động, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với con Trần
Văn L1 – sinh ngày 22/8/2007 bà H yêu cầu trực tiếp nuôi con và không yêu
cầu cấp dưỡng. Hiện nay con Trần Văn L1 đang ở với bà H, thể hiện nguyện
vọng được sống với mẹ nên HĐXX giao con Trần Văn L1 cho bà H trực tiếp
nuôi dưỡng.
Về tài sản và nợ: bà H và ông T không yêu cầu giải quyết nên Hội
đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ:
- khoản 01 Điều 28, khoản 01 Điều 35, khoản 01 Điều 39, khoản 4
Điều 147, điểm b khoản 02 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng
dân sự;
- khoản 01 Điều 14, Điều 15, khoản 02 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều
83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp
quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban
hành kèm theo Nghị quyết.
* Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị
H với ông Trần Văn T là quan hệ vợ chồng.
- Về con: Bà Nguyễn Thị H được trực tiếp nuôi dưỡng con Trần Văn L1
– sinh ngày 22/8/2007. Bà Nguyễn Thị H không yêu cầu ông Trần Văn T cấp
dưỡng nuôi con.
Bà Nguyễn Thị H và ông Trần Văn T có quyền, nghĩa vụ trông nom,
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn. Bà Nguyễn Thị H
không được ngăn cản ông Trần Văn T trong việc thăm nom, chăm sóc và giáo
dục các con chung.
Về tài sản và nợ: các đương sự không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ
thẩm về việc giải quyết ly hôn. Ngày 29/12/2021 bà H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0004193 tại Chi cục thi hành án thành phố Phan Thiết nay chuyển sang thành án phí. Bà Nguyễn Thị H đã nộp đủ án phí.
Bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày
tuyên án (18/4/2022). Quyền kháng cáo của ông Trần Văn T tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các đương sự;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND Tp. Phan Thiết;
- Chi cục THADS Tp.Phan Thiết;
- Cổng TTĐT TAND tối cao.
- UBND xã L
- Lưu hồ sơ, văn phòng.
Nguyễn Lê Phương CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND Tp. Phan Thiết; - Chi cục THADS Tp.Phan Thiết; - Cổng TTĐT TAND tối cao. - UBND xã Tiến Thành - Lưu hồ sơ, văn phòng. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Lê Phương THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |