vanban.org

Bản án 19/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 31/03/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh Nguyễn Công V và chị Phạm Thị H"
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 31-3-2022
Vv: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Hồng Hải

- Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Sỹ Quân

Ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 3 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà Hôn nhân gia đình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 123/2021/TLST - HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phiên tòa dân sự sơ thẩm số: 15/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Nguyễn Công V; Sinh năm: 1987; Địa chỉ: thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh; (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Bị đơn: Phạm Thị H; Sinh năm: 1990; Địa chỉ: thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh. Hiện đang lao động tại Đài Loan (Xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Công V trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Công V và chị Phạm Thị H đăng ký kết hôn ngày 10/01/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Thạch Đỉnh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc. Đến tháng 8 năm 2017 vợ chồng tôi bắt đầu mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống. Cùng thời điểm đó chị Phạm Thị H bỏ đi nước ngoài cho đến nay chưa về nước, từ đó vợ chồng không còn gặp nhau, tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng chỉ tồn tại trên danh nghĩa nên anh Nguyễn Công V đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với chị Phạm Thị H.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có một con chung là cháu Nguyễn Công Minh Quân, sinh ngày: 09/11/2014. Anh Nguyễn Công V có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị Hoa đóng góp cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ: Vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, anh Nguyễn Công V có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt.

Tòa án đã về làm việc với Ủy ban nhân dân xã Đỉnh bàn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh; làm việc với ông Phạm Công Nhứ là bổ đẻ của chị Phạm Thị H; gọi điện qua tài khoản Zalo của chị Hoa do gia đình cung cấp, có sự chứng kiến của chính quyền địa phương, chị Hoa trình bày: chị Phạm Thị H hiện đang làm việc và sinh sống tại Đài Loan, do tình hình dịch bệnh nên chị không thể về Việt Nam để giải quyết vụ án. Chị Hoa đã biết việc anh Nguyễn Công V có yêu cầu ly hôn và xác nhận những nội về thời gian kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng là đúng. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm nên cũng có nguyện vọng được ly hôn với anh Vũ; Về con chung: chị trình bày hiện nay chị đang lao động tại nước ngoài con đang ở với anh Vũ và con có nguyện vọng ở với bố nên chị đồng ý giao con chung cho anh Vũ và không yêu cầu tòa án giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, chị yêu cầu được xét xử vắng mặt và ủy quyền việc giao nhận các tài liệu, chứng cứ cho ông Phạm Công Nhứ, địa chỉ: thôn V, xã Đ, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh.

Quá trình làm việc ông Phạm Công Nhứ đồng ý chấp nhận việc ủy quyền giao nhận tại liệu của chị Hoa.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Công V. Xử cho anh Nguyễn Công V được ly hôn với chị Phạm Thị H; về con chung: Giao con chung cho anh Vũ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, về cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Không có và không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của các đương sự được HĐXX công bố và bài phát biểu của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị H đã xuất nhập cảnh nhiều lần, lần gần đây nhất xuất cảnh ngày 10/12/2017 qua cửa khẩu Sân bay quốc tế Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 29, 37, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Đồng thời do điều kiện công việc nên Chị Hoa yêu cầu được vắng mặt trong toàn bộ quá trình xét xử và ủy quyền việc giao nhận tài liệu chứng cứ cho ông Phạm Công Nhứ. Căn cứ quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị Phạm Thị H theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Công V và chị Phạm Thị H đã tuân thủ các điều kiện kết hôn và đã đăng ký kết hôn vào ngày 10/01/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Thạch Đỉnh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh, vì vậy đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc với nhau. Đến tháng 8 năm 2017 vợ chồng bắt đầu bất đồng về quan điểm sống, phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể hòa giải được. Cũng từ thời điểm đó chị Hoa bỏ đi nước ngoài cho đến nay chưa về nước. Anh Vũ xét thấy không còn tình cảm với vợ và mong muốn được ly hôn. Chị Hoa cũng thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nữa nay chị anh Vũ xin ly hôn chị đồng ý.

Mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc nhưng cuộc hôn nhân giữa anh Vũ và chị Hoa không đạt được mục đích đó.

Xét thấy, sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật. Vợ chồng sống mỗi người một nơi không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 55 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của anh Nguyễn Công V và chị Phạm Thị H.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có một con chung tên là Nguyễn Công Minh Quân, sinh ngày 09/11/2014, anh Nguyễn Công V và chị Phạm Thị H đều thống nhất giao con chung cho anh Vũ chăm sóc nuôi dưỡng. Cháu Quân cũng có đơn trình bày nguyện vọng được ở với bố. Nên cần sự thỏa thuận của các đương sự giao con chung cho anh Vũ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định pháp luật và điều kiện hoàn cảnh mỗi bên.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con: Không ai yêu cầu, tòa án không xem xét

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Không ai yêu cầu, tòa án không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 28, 37, 227, 469, 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 110, 116, 117, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Nguyễn Công V được ly hôn chị Phạm Thị H

2. Về con chung: Xử giao con chung là Nguyễn Công Minh Quân, sinh ngày 09/11/2014 cho anh Nguyễn Công V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi về quyền nuôi con. Chị Phạm Thị H được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con: Không ai yêu cầu, tòa án không xem xét

3. Về tài sản chung và nợ: Các đương sự không yêu cầu nên miễn xét.

4. Về án phí : Áp dụng Điều 147, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 buộc anh Nguyễn Công V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm (đã nộp theo biên lai số 0000035 ngày 01/11/2021 tại Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh)

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ