- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Ng và anh Tr"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Kim Ng là cho Chị Ng được ly hôn với anh Lê Văn Tr.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 19/2022/HNGĐ - ST Ngày: 30/6/2022 V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN - TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Phan Quang Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Võ Đức Tùng
2. Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị An – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn - tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 63/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08 ngày 25 tháng 4 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2022/QĐST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Kim Ng, sinh năm 1997 (Có mặt)
Trú tại: xóm Hùng Lập, xã Nghĩa Lộc, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
- Bị đơn: Anh Lê Văn Triều, sinh năm 1990 (Vắng mặt)
Trú tại: xóm Hùng Lập, xã Nghĩa Lộc, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn đề ngày 10 tháng 01 năm 2022 và trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Phạm Thị Kim Ng trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thị Kim Ng và anh Lê Văn Triều có đăng ký kết hôn vào ngày 18 tháng 12 năm 2014 tại UBND xã Nghĩa Lộc, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Trong thời gian chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống không hòa hợp, anh Tr không tôn trọng Chị Ng, sống gia trưởng và làm nhục Chị Ng trên mạng xã hội. Chị Ng và anh Tr đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 cho đến nay, hiện Chị Ng không còn tình cảm với anh Tr nữa, nhận thấy mục đích của hôn nhân không đạt được nên đề nghị được giải quyết ly hôn với anh Tr.
Về con chung: Chị Ng và anh Tr có 01 con chung là Lê Anh D sinh ngày 06 tháng 12 năm 2015. Chị Ng muốn anh Tr nuôi dưỡng con chung vì hiện tại Chị Ng đang khó khăn về kinh tế và đề nghị Tòa án hoãn yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung cho Chị Ng.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Lê Văn Triều: Qúa trình nộp hồ sơ tại Tòa án, Chị Ng đã gửi cho anh Tr đơn xin ly hôn và các tài liệu, chứng cứ kèm theo. Tòa án cũng đã tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập,Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định hoãn phiên tòa cho anh Tr nhưng anh Tr vẫn cố tình không hợp tác, không có mặt tại Tòa án để giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh Tr vẫn không có mặt. Vì vậy Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết vắng mặt anh Tr.
Có mặt tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa và của Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã làm đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật. Qúa trình giải quyết vụ án đã tuân thủ các quy định của pháp luật, đúng thời gian và trình tự thu thập chứng cứ của đương sự. Đối với các đương sự thì bị đơn đã không chấp hành theo quy định của pháp luật. Vì vậy cần áp dụng quy định của pháp luật về sự vắng mặt của đương sự để giải quyết vụ án. Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là cho chị Phạm Thị Kim Ng được ly hôn với anh Lê Văn Tr. Về con cái: Đề nghị giao cho anh Lê Văn Tr được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Lê Anh D sinh ngày 06/12/2015. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho Chị Ng do Chị Ng đang khó khăn về kinh tế. Về tài sản chung, nợ chung do đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Về án phí, buộc nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của chị Phạm Thị Kim Ng.
Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Văn Tr đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Tr theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 – Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Phạm Thị Kim Ng và anh Lê Văn Tr là hôn nhân tự nguyện và hợp pháp. Trong thời gian chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống không hòa hợp, anh Tr không tôn trọng Chị Ng, sống gia trưởng và làm nhục Chị Ng trên mạng xã hội. Chị Ng và anh Tr đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2021 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân thì hai bên cũng không quan tâm gì đến nhau, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó cần chấp nhận yêu cầu của của chị Phạm Thị Kim Ng là cho Chị Ng ly hôn với anh Lê Văn Triều.
Về nuôi con chung: Chị Ng và anh Tr có 01 con chung là Lê Anh D sinh ngày 06/12/2015. Nguyện vọng của Chị Ng là để cho anh Tr nuôi dưỡng cháu Duy vì Chị Ng đang khó khăn về kinh tế. Xét thấy hiện nay cháu D đang sống, học tập ổn định tại xã Nghĩa Lộc với anh Tr nên giao cho anh Tr được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung thì tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho Chị Ng do chưa ai có yêu cầu.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết về tài sản, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Phạm Thị Kim Ng phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các Điều 28, điều 35, khoản 4 Điều 147, các Điều 266, 271, 273, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 điều 51, điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Phạm Thị Kim Ng là cho Chị Ng được ly hôn với anh Lê Văn Tr.
2. Về con chung: Giao con chung Lê Anh D sinh ngày 06/12/2015 cho anh Lê Văn Tr được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến lúc con chung thành niên, có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Ngân do không ai yêu cầu. Chị Ng có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung, khi có căn cứ theo quy đi ̣nh của pháp luâ ̣t thi
̀ có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
4. Về án phí: Chị Phạm Thị Kim Ng phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0005692 ngày 07 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Báo cho nguyên đơn biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho bị đơn biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; - VKSND huyện Nghĩa Đàn; - Chi cục THADS huyện Nghĩa Đàn; - Các đương sự; - UBND xã Nghĩa Lộc, huyện Nghĩa Đàn; (Nơi thực hiện ĐKKH); - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Quang Sơn |