vanban.org

Bản án 19/2022/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 – Bộ luật dân sự; Điều 6, khoản 2 Điều 26, điểm c tiểu mục 1.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Xuân S, buộc chị Đào Thị H phải có nghĩa vụ trả cho anh Lương Xuân S số tiền nợ là 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh S có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan Thi hành án có quyết định thi hành, nếu chị H không … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Lương Xuân S - Đào Thị H"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 – Bộ luật dân sự; Điều 6, khoản 2 Điều 26, điểm c tiểu mục 1.
  • Căn cứ chính? Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 19/2022/DSST
Ngày: 29/6/2022
V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hồng Vân

2. Bà Nguyễn Thị Thưởng

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc - Thư ký TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đại diện VKSND TP.Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 73/2022/TLST- DS ngày 24 tháng 02 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo “Quyết định đưa vụ án ra xét xử” số 125/2022/QĐXX-ST ngày 14 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lương Xuân S – sinh năm 1987 (có mặt)

Địa chỉ: SN 02 phố T, phường N, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Chị Đào Thị H – sinh năm 1973

Địa chỉ: SN 01 phố Đ, phường L, Tp Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam T – Công an tỉnh Thanh Hóa. (vắng mặt, chị H có đơn xin xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Lương Xuân S trình bày:

Do có người quen giới thiệu nên ngày 01/12/2020 tức ngày 17/10/2020 (âm lịch) chị Đào Thị H có vay của anh số tiền 500.000.000 đồng, đến ngày 09/12/2020 tức ngày 25/10/2020 (âm lịch) chị H lại vay tiếp 200.000.000 đồng, tổng cộng là 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng). Sau mỗi lần vay chị H đều viết giấy vay tiền cho anh. Trong giấy vay tiền không thỏa thuận lãi suất và thời gian trả nợ, mà khi nào anh cần tiền sẽ yêu cầu chị H trả tiền gốc. Chị H có nói sẽ trả lãi 1.500 đồng/1 triệu/ngày cho anh và anh đồng ý. Sau khi nhận tiền chị H có trả lãi đều đăn cho anh đến tháng 5/2021. Khi anh cần tiền nên đã yêu cầu chị H trả lại số tiền gốc đã vay, nhưng chị H cứ khất lần không trả. Sau đó chị H cũng có trả lãi nhưng không đầy đủ như đã hứa với anh. Tổng số tiền lãi chị H đã trả cho anh khoảng 200.000.000 triệu đồng.

Anh đã nhiều lần yêu cầu chị H trả nợ gốc nhưng chị H vẫn không trả được cho anh đồng nào. Nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị H phải trả cho anh toàn bộ số nợ gốc đã vay là 700.000.000 đồng (bảy trăm triệu đồng) và không yêu cầu chị H phải trả lãi.

Về phía bị đơn, tại bản tự khai chị Đào Thị H trình bày:

Tôi thống nhất 17/10/2020 (âm lịch) chị có vay anh S số tiền 500.000.000 đồng, đến ngày 25/10/2020 (âm lịch) tôi tiếp tục vay 200.000.000 đồng. Tổng số tiền chị vay của anh S là 700.000.000 đồng. Sau mỗi lần vay chị có viết giấy nhận nợ cho anh S, nội dung như anh S trình bày là đúng. Chị có tự nguyện trả lãi với lãi suất 1500 đồng/1 triệu/ ngày cho anh S được đến tháng 5/2021. Sau đó do làm ăn khó khăn nên chị có chậm trả lãi và trả lãi thiếu như đã hứa với anh S.

Nay anh S khởi kiện yêu cầu chị phải trả số tiền 700.000.000 đồng tiền gốc đã vay, không yêu cầu tính lãi, tôi đồng ý. Nhưng do hiện nay tôi đang phải chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam nên chưa có điều kiện để trả mà đến khi tôi chấp hành xong án phạt tù, tôi sẽ trả số nợ trên cho anh S. Về số tiền lãi chị đã trả cho anh S là tự nguyện nên chị không có yêu cầu gì.

Quá trình giải quyết vụ án, do chị Đào Thị H đang phải chấp hành án tại Trại tạm giam nên làm đơn xin vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và xin vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, anh Lương Xuân S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Ý kiến của đại diện VKS: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký và HĐXX, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn kể từ khi toà án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã tuân thủ đúng quy định của bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Đại diện VKS đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; về án phí: Bị đơn chị Đào Thị H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được kiểm tra, xem xét tại phiên toà; Kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Ý kiến của người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Anh Lương Xuân S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết

tranh chấp hợp đồng vay tài sản; bị đơn có HKTT tại thành phố Thanh Hóa (hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa), do đó TAND TP.Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 - Bộ luật TTDS.

Về việc vắng mặt bị đơn chị Đào Thị H: Chị Đào Thị H đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, tuy nhiên chị H đang chấp hành án phạt tù tại trại giam nên làm đơn xin vắng mặt là đúng với quy định của bộ luật dân sự, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 207, Điều 227, Điều 228 BLTTDS để xét xử.

Về nội dung tranh chấp

Anh Lương Xuân S khởi kiện yêu cầu chị Đào Thị H trả nợ số tiền gốc đã vay là 700.000.000đ (bảy trăm triệu đồng) và giao nộp cho Tòa án “Giấy vay tiền” lập ngày 17/10/2020 (âm lịch) và ngày 25/10/2020 (âm lịch) do chị Đào Thị H viết để làm căn cứ khởi kiện. Trong quá trình giải quyết vụ án, giữa các anh S và chị H thống nhất được với nhau về số nợ gốc, không yêu cầu tính lãi, theo đó chị H còn nợ anh S số tiền là 700.000.000 đồng. Tuy nhiên, do chị H đang phải chấp hành án nên chị đề nghị sau khi chấp hành xong án phạt tù sẽ thu xếp trả nợ cho anh S.

Như vậy, việc anh Lương Xuân S khởi kiện yêu cầu chị Đào Thị H phải trả cho anh số tiền nợ 700.000.000đ (không yêu cầu trả lãi) là có căn cứ, đúng quy định tại các Điều 463, 466 Bộ luật dân sự, do đó HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh S.

Về sự thỏa thuận lãi suất giữa anh S chị H là 1.500 đồng/1 triệu/ ngày tương đương với lãi suất 54%/năm là trái với quy định của BLDS. Tuy nhiên, chị H tự nguyện trả lãi cho anh S, hai bên đã thanh toán tiền lãi cho nhau và không ai có yêu cầu, đề nghị gì về lãi suất đã thanh toán nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của anh S được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn chị Đào Thị H phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463, Điều 466 – Bộ luật dân sự; Điều 6, khoản 2 Điều 26, điểm c tiểu mục 1.3, khoản 1 phần II, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Lương Xuân S, buộc chị Đào Thị H phải có nghĩa vụ trả cho anh Lương Xuân S số tiền nợ là 700.000.000đ (Bảy trăm triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, anh S có đơn yêu cầu thi hành án, cơ quan Thi hành án có quyết định thi hành, nếu chị H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ số tiền trên thì phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự.

Về án phí: chị Đào Thị H phải chịu 32.000.000đ (Ba mươi hai triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá nghạch. Anh Lương Xuân S không phải chịu án phí và được nhận lại 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0001677 ngày 18/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hịên theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ